Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

KINH PHÁP CÚ BẰNG TRANH - PHẨM TỲ KHEO TĂNG


user posted image
Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều dịp khác nhau, trong suốt 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài. Các bài kệ nầy được sắp xếp trong 26 phẩm, do các vị đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Ðại hội Kết tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi Ðức Phật nhập diệt
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lời giới thiệu

Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Pháp (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, lời dạy của Ðức Phật; Cú (Pada) là lời nói, câu kệ. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, "Pada" còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada thường được dịch là Con đường Chân lý (Path of Truth), Con đường Phật Pháp (Path of the Buddha's Teaching).
 
Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật nói ra trong nhiều dịp khác nhau, trong suốt 45 năm hoằng dương Chánh Pháp của Ngài. Các bài kệ nầy được sắp xếp trong 26 phẩm, do các vị đại đệ tử thu xếp và tụng đọc trong Ðại hội Kết tập Kinh điển lần đầu tiên sau khi Ðức Phật nhập diệt. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Mỗi bài kệ là một nguồn cảm hứng cao đẹp, một lối đi mới lạ, một sức mạnh kỳ diệu giúp chúng ta có một niềm tin vững chắc hơn trên con đường tu học để tiến đến giác ngộ, giải thoát.
 
 
 
 
360. "Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi."
user posted image


361. "Lành thay,phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau."
user posted image


362. "Người chế ngự tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nội thiền định.
Ðộc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi tỷ kheo."
user  posted image


363. "Tỷ kheo chế ngự miệng,
Vừa lời, không cống cao,
Khi trình bày pháp nghĩa,
Lời lẽ dịu ngọt ngào."
user posted image


364. "Vị tỷ kheo thích Pháp,
Mến pháp, suy tư Pháp.
Tâm tư niệm chánh Pháp,
Không rời bỏ chánh Pháp."
user posted image

365. "Không khinh điều mình được,
Không ganh người khác được
Tỷ kheo ganh tị người,
Không sao chứng Thiền Ðịnh."
user posted image


366. "Tỷ kheo dầu được ít,
Không khinh điều mình được,
Sống thanh tịnh không nhác,
Chư thiên khen vị này."
user posted image


367. "Hoàn toàn, đối danh sắc,
Không chấp Ta, của Ta.
Không chấp, không sầu não.
Thật xứng danh Tỷ kheo."
user posted image


368. "Tỷ kheo trú từ bi,
Tín thành giáo Pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tỉnh.
Các hạnh an tịnh lạc."
user posted image


369. "Tỷ kheo, tát thuyền này,
Thuyền không, nhẹ đi mau.
Trừ tham, diệt sân hận,
Tất chứng đạt Niết-Bàn."
user posted image


370. "Ðoạn năm (1), từ bỏ năm (2),
Tu tập năm (3) tối thượng,
Tỷ kheo cắt năm trói (4),
Xứng danh vượt "bộc lưu" (5)."
user posted image


371. "Tỷ kheo, hãy tu thiền,
Chớ buông lung phóng dật,
Tâm chớ đắm say dục,
Phóng dật, nuốt sắt nóng
Bị đốt, chớ than khổ!"
user  posted image


372. "Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền có tuệ,
Nhất định gần Niết-Bàn."
user posted  image


373. "Bước vào ngôi nhà trống,
Tỷ kheo tâm an tịnh,
Thọ hưởng vui siêu nhân
Tịnh quán theo chánh pháp."
user posted image


374. "Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết."
user posted image

375. "Ðây Tỷ kheo có trí,
Tụ tập pháp căn bản
Hộ căn, biết vừa đủ,
Giữ gìn căn bản giới,
Thường gần gũi bạn lành,
Sống thanh tịnh tinh cần."
user posted image


376. "Giao thiệp khéo thân thiện,
Cử chỉ mực đoan trang.
Do vậy hưởng vui nhiều,
Sẽ dứt mọi khổ đau."
user posted image


377. "Như hoa Vassikà (6),
Quăng bỏ cánh úa tàn,
Cũng vậy vị Tỷ kheo,
Hãy giải thoát tham sân."
user posted image


378. "Thân tịnh, lời an tịnh,
An tịnh, khéo thiền tịnh.
Tỷ kheo bỏ thế vật,
Xứng danh "bậc tịch tịnh ".
user posted image


379. "Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc."
user posted image

380. "Tự mình y chỉ mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền."
user posted image


381. "Tỷ kheo nhiều hân hoan,
Tịnh tín giáo pháp Phật,
Chứng cảnh giới tịch tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc."
user posted image


382. "Tỷ kheo tuy tuổi nhỏ
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi mây."
user posted image



Chú thích:

(1) Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục ái, sân.
(2) Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh.
(3) Tín, tấn, niệm, định, tuệ.
(4) 5 trói buộc: tham, sân, si, mạn, tà kiến
(5) Bộc lưu: dòng nước lũ
(6) Bông lài.

MƯỜI ĐIỀU LỢI ÍCH CỦA TRÌ GIỚI LUẬT

user posted image “Người có trí không hủy báng”. Nghĩa là, giữ gìn Giới hạnh thanh tịnh, hành vi của thân và miệng không có lỗi lầm, thì người có trí sẽ khởi tâm hoan hỷ, tán thán, chứ không hủy báng chê bai. 











Luật Tứ Phần: 
 
  1. Thứ nhất, “Viên mãn chí nguyện”. Nghĩa là, thường hành trì Giới Cấm thì thân tâm thanh tịnh; Trí tuệ, tâm tánh sáng suốt; tức là, hết thảy Trí tuệ, hành hoạt và thệ nguyện không có điều nào là không thành tựu viên mãn.
  2. Thứ hai, “Sở học như đức Phật”. Nghĩa là, như khi đức Phật mới tu học, Ngài lấy Giới-Luật làm căn bản, do đó mà chứng đắc Phật quả; vì vậy, người nào thường kiên trì giữ Giới, thì cũng sẽ đạt được sở học như đức Phật.
  3. Thứ ba, “Người có trí không hủy báng”. Nghĩa là, giữ gìn Giới hạnh thanh tịnh, hành vi của thân và miệng không có lỗi lầm, thì người có trí sẽ khởi tâm hoan hỷ, tán thán, chứ không hủy báng chê bai.
  4. Thứ tư, “Thệ nguyện không bị thoái hoá”. Nghĩa là, kiên trì giữ gìn Giới Cấm để mong cầu chứng đạt quả vị Bồ-Đề, thì thệ nguyện này luôn luôn được thực hiện tinh tấn với tinh thần bất thối chuyển.
  5. Thứ năm, “An trú trong Chánh hạnh”. Nghĩa là, kiên trì giữ gìn Giới Cấm làm cho Tam nghiệp thanh tịnh, nên luôn luôn an trú trong Chánh hạnh, không xa lìa.
  6. Thứ sáu, “Xả bỏ sanh tử”. Nghĩa là, thọ trì Giới Cấm tức là không làm các việc sát sanh, trộm cướp v.v… nên có thể ra khỏi sanh tử, vĩnh viễn xa lìa cái khổ của sự luân hồi.
  7. Thứ bảy, “Vui thích Niết Bàn”. Nghĩa là, kiên trì giữ gìn Giới Cấm làm đoạn tuyệt mọi vọng tưởng, cho nên thường chán ghét cái khổ sanh tử, vui thích Niết Bàn.
  8. Thứ tám, “Tâm không bị trói buộc”. Nghĩa là, khi Giới đức tròn đầy, sáng suốt thì sẽ giải thoát hết thảy nghiệp duyên phiền não, không còn bị trói buộc bởi các họa hoạn nữa.
  9. Thứ chín, “Đạt Thiền định tối thắng”. Nghĩa là, khi trì Giới thanh tịnh thì tâm sẽ không bị tán loạn nên thành tựu được Thiền định, tâm định tĩnh hiện hữu, siêu việt những tâm niệm Hữu lậu.
  10. Thứ mười, “Không thiếu Chánh tín, Pháp tài”. Nghĩa là, nhờ giữ gìn Giới-Luật nên đối với các pháp đức Phật đã dạy được đầy đủ Chánh tín, tức là, Pháp tài không thiếu và thường phát xuất tất cả mọi công đức.”

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

NHỮNG HÌNH ẢNH TRONG KHOÁ HUÂN TU ĐẠI BI 02-03.08.2014

Xin giới thiệu cùng quý Phật tử những hình ảnh ghi lại từ khoá Huân Tu Đại Bi được tổ chức trong hai ngày 02-03.08.2014 vừa qua tại chùa Phật Huệ...