Hiển thị các bài đăng có nhãn Tịnh Tông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tịnh Tông. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

Khai thị của Hòa thượng Thích Trí Tịnh


Bốn tiếng chấp trì danh hiệu thường thường không ai chú ý. Khó lắm! Lời trong kinh nói là lời Phật nói không phải chuyện thường, từ tiếng phải nắm cho rõ chứ không phải như phàm phu nói chuyện với nhau. Nếu không như vậy thì sẽ hiểu sai lệch, đã hiểu sai thì tu sai, tất nhiên không có chỗ thành tựu. Thế nào mới đúng ở nơi chấp trì danh hiệu? Chấp nghĩa là nắm, trì nghĩa là giữ, tức là trong tâm thường niệm Phật luôn luôn, chẳng phải như lúc mới tập niệm hoặc nửa tiếng hay một tiếng, hoặc một trăm câu nhưng lúc buông ra thì trong tâm không nhớ niệm Phật. Như vậy nghĩa của chấp trì là nắm luôn giữ kỹ, không lúc nào không có, lúc có lúc không thì chẳng phải.
 
 
Trong những pháp môn Phật dạy, tôi cả đời chuyên tâm nơi pháp môn trì danh niệm Phật. Pháp tu niệm Phật có nhiều, trì niệm danh hiệu Phật là một trong những pháp niệm Phật. Đây là pháp môn dễ tu, dễ thực hành nhất, dễ thành tựu.

Về chỗ thành tựu cũng như chỗ đạt được rất rõ ràng từng bước, từng nấc tiến, có thể diễn nói, có thể cắt nghĩa. Do cái rõ ràng mà người được nghe, người được biết, nghe cũng dễ mà biết đúng cũng dễ. Chỉ quan trọng là phải có lòng tin chân thật, chí nguyện vãng sanh chân thật và thực hành đúng pháp siêng năng. Được vậy, thì đã nắm vững ở pháp môn niệm Phật. Nếu lúc tu hành có sai cũng dễ nhận biết, làm đúng mình cũng tự biết, khi được mình cũng tự biết.
Tôi nói thật với các huynh đệ, những gì sau khi tôi đã hiểu đã biết, lúc thực hành như thế nào, trải qua mấy mươi năm, các huynh đệ đôi khi thắc mắc: không biết Hòa thượng tu như vậy thành tựu được gì không? Có được mà chỉ được bước đầu tiên thôi.
Các huynh đệ tụng Kinh A Di Đà, đức Phật có nói, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân được nghe đức Phật A Di Đà rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày nhất tâm bất loạn thì người đó đến lúc lâm chung được đức Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng hiện ra trước mặt. Lúc ấy, do sức niệm của mình đã vững, lại có Phật và Thánh cùng đến tiếp đón nên tâm không điên đảo, được sanh về thế giới Tây phương Cực lạc.

Khi về cõi Cực lạc lấy hoa sen làm bào thai mà sanh ra, thọ hưởng về chánh báo là thân thể, được thân kim cang bất hoại. Trong kinh nói, hoàn cảnh ở cõi đó rất rõ ràng, đất đai, nhà cửa, sự sinh hoạt đều rất trang nghiêm thanh tịnh, bảo đảm chắc chắn thành tựu quả vị Phật. Cho nên, vãng sanh Tịnh độ không phải chuyện tầm thường, phải được Đức Phật cùng Thánh chúng đến tiếp đón.
Vậy làm thế nào chúng ta được sanh về cõi Cực lạc? Trong Kinh A Di Đà nói: “Chẳng thể dùng chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi ấy”. Chẳng dùng chút ít nghĩa là phải nhiều, nhiều thiện căn phước đức nhân duyên mới được sanh về. Nhưng muốn được nhiều phải làm sao? Theo lời Phật dạy, rất dễ hiểu, dễ thực hành, dễ được kết quả. Nghĩa là: Người nào nghe đến Đức Phật A Di Đà rồi chấp trì danh hiệu. Nghe đến nghĩa là chưa từng nghe biết cõi Cực lạc và Đức Phật A Di Đà, bây giờ mới được nghe biết danh hiệu của Ngài.
Bốn tiếng chấp trì danh hiệu thường thường không ai chú ý. Khó lắm! Lời trong kinh nói là lời Phật nói không phải chuyện thường, từ tiếng phải nắm cho rõ chứ không phải như phàm phu nói chuyện với nhau. Nếu không như vậy thì sẽ hiểu sai lệch, đã hiểu sai thì tu sai, tất nhiên không có chỗ thành tựu. Thế nào mới đúng ở nơi chấp trì danh hiệu? Chấp nghĩa là nắm, trì nghĩa là giữ, tức là trong tâm thường niệm Phật luôn luôn, chẳng phải như lúc mới tập niệm hoặc nửa tiếng hay một tiếng, hoặc một trăm câu nhưng lúc buông ra thì trong tâm không nhớ niệm Phật. Như vậy nghĩa của chấp trì là nắm luôn giữ kỹ, không lúc nào không có, lúc có lúc không thì chẳng phải.
Về sau các bậc cổ đức diễn tả bốn tiếng ấy như là:
1. Bất niệm tự niệm: Mình không nghĩ niệm nhưng trong tâm vẫn luôn tự niệm Phật.
2. Niệm lực tương tục: Niệm Phật có sức mạnh thường niệm luôn, không lúc nào hở dứt.
Nếu người nào tự thực hành thì sẽ tự biết. Từ chỗ được chấp trì danh hiệu là đạt bước đầu tiên về đạo lực trong Pháp môn Trì danh niệm Phật.
Tôi nói rõ cho các huynh đệ biết, điều này tôi cũng đã nói rồi. Từ trước đến giờ, tôi chuyên tu ở nơi pháp môn Niệm Phật, là pháp tu mà Phật dạy từ phàm phu tiến lên bậc Thánh. Về chỗ thành tựu, tôi chỉ được bốn tiếng như trong kinh đã nói là chấp trì danh hiệu. Từ bước đầu tiên này mới được những bước sau như tiến lên tam muội (chánh định) chẳng hạn.
Đến bây giờ, tôi cũng chỉ được tầng bậc này thôi, phần ít nhất của Pháp môn Niệm Phật. Đời tôi năm nay đã 96 tuổi mà thọ dụng không hết.
Thứ nhất: ngũ tạng, lục phủ trong thân không sanh bệnh. Có lần tôi vô bệnh viện để khám bệnh. Sau khi khám xong, bệnh viện làm giấy kết quả xét nghiệm về tâm, can, tỳ, phế, thận, máu huyết… họ tổng kết rằng: kiểm tra kỹ, tất cả đều bình thường. Kế nữa, có điều làm chứng cho mình biết, các vị đắc đạo lên bậc Thánh, cái ngủ không có, thùy miên tâm sở bị trí lực làm cho thế lực của nó yếu hẳn hoặc mất đi.
Người bình thường, thùy miên tâm sở còn nguyên, hễ nằm nhắm mắt thì khởi lên ngủ mê, còn trằn trọc không ngủ là bị bệnh mất ngủ. Còn người được đạo, thùy miên tâm sở yếu hoặc không còn. Vì sao? Vì có trí lực chế phục. Như lâu rồi cho đến bây giờ, mấy tháng nay tôi không ngủ. Mấy chú thị giả nói: “Con không ngủ một đêm thì ngày sau không làm gì được! Sư ông mấy tháng không ngủ tinh thần vẫn tỉnh sáng, còn phấn chấn mạnh hơn lúc trước kia”. Thỉnh thoảng tôi cũng ngủ nhưng ít lắm, đến đỗi chỉ khi có chiêm bao mới biết mình ngủ.
Trên đường đạo, mình biết rất rõ ràng chứ không phải mù mờ. Mù mờ nguy hiểm lắm! Chính mình không rõ để nhận biết, rồi tự viết thành sách. Người đọc tưởng rằng đúng, chẳng dè chỉ là phàm phu tự ý nói ra. Tôi thường nói, phải y cứ trong kinh làm chánh, gọi là Thánh giáo lượng. Trong kinh không nói, dù người có nói hoặc viết sách truyền bá thì chưa chắc chắn. Vì phàm phu vẫn phải phàm phu, chẳng thể phàm phu muốn thành Thánh liền thành Thánh.
Hồi xưa, tôi chuyên nắm giữ nơi pháp môn Niệm Phật là do có tâm ưa thích. Tâm ưa thích này, nghiệm lại là tập quán quen thuộc của mình nhiều đời nhiều kiếp chớ không phải mới đây. Kế đến, tôi nhận thấy pháp tu này chắc chắn, từ chỗ ứng dụng tu đến lúc được kết quả đều có mực thước rõ ràng. Chẳng hạn, lúc hạ thủ công phu Trì danh niệm Phật, bắt đầu thực hành cũng rõ ràng từ việc nghe tiếng Nam-mô A Di Đà Phật, chỉ có sáu chữ, dễ nhận, dễ biết, dễ nhớ. Nhưng niệm phải đúng pháp là thế nào? Lúc niệm Phật thì có âm thanh của câu Phật hiệu, nhưng tâm phải nhận rõ được tiếng niệm, chớ đừng miệng niệm mà tâm lại nghĩ việc khác. Ví dụ: miệng niệm Phật, trong tâm lại suy nghĩ xâu chìa khóa để đâu rồi? Như vậy là tu trật, đúng hay sai liền biết.
Niệm Phật đúng pháp là tâm tiếng hiệp khắn nhau. Tiếng ở đâu thì tâm ở đó, tâm ở đâu thì tiếng ở đó. Niệm thầm hay ra tiếng đều phải vậy. Thế nên, lúc ứng dụng tu đúng hay không đúng tự mình dễ dàng phân biệt. Muốn niệm đúng pháp cũng khó lắm! Tâm phải theo tiếng rất khó! Khó kềm, khó nhiếp cho đến phải dùng xâu chuỗi, nhờ lần chuỗi để trói buộc cái tâm loạn tưởng lại, chứ không phải lần chuỗi thiệt lẹ hột này rồi đến hột khác.
Thuở trước, tôi tự tìm cách để niệm Phật. Lúc ngồi lại niệm Phật thầm, tôi định thời gian là một xâu chuỗi. Ban đầu niệm đủ ba câu Phật hiệu rồi lần một hột, nhưng ba câu Phật này phải chắc chắn, nếu nó xao lãng không rõ ràng thì bỏ, lại niệm ba câu khác. Sau đó, tiến lên năm câu lần một hột, rồi đến bảy câu lần một hột, sau rốt mười câu lần một hột. Nếu lúc niệm Phật mà có một chút xao lãng, tạp niệm xen vào thì mười câu đó bỏ, niệm mười câu khác. Nhiếp tâm không dễ dàng, phải chuyên cần tinh tấn, nắm cho thật vững chắc. Mình tu đúng thì chính mình được thành tựu, do đó phải cố gắng.
Lúc được Bất niệm tự niệm trong tâm biết rất rõ ràng như từ chỗ điểm A bước đến điểm B, được rồi thì nhất định không bao giờ mất, chắc thật không phải mờ mịt. Đến bây giờ, tôi chỉ được chỗ này thôi. Các huynh đệ đừng nghĩ rằng, các vị Thánh xuôi chân nằm ngủ ngáy khò khò như mình đâu, nghĩ vậy là sai. Tôi được một chút đó mà cái ngủ đã tự nhiên mất, nếu có thì chỉ thỉnh thoảng.
Các pháp môn khác cũng vậy, lúc còn phàm phu thì chưa có đạo lực, ở pháp Phật được chút gì thì gọi là đạo lực. Đã có sức mạnh trên đường đạo ắt phải khác hẳn lúc chưa có.
Tôi từng diễn đạt phương pháp niệm Phật qua bài kệ:
Nam-mô A Di Đà


Không gấp cũng không hưỡn


Tâm tiếng hiệp khắn nhau


Thường niệm cho rành rõ.

Rành là câu tiếng rành rẽ. Rõ là phải rõ ràng. Lúc niệm Phật đừng ham nhiều rồi niệm phớt phớt, không cần nhiều nhưng phải thật rành rõ. Khi công phu nắm thiệt vững chỗ này. Kế đến là tâm tiếng hiệp khắn nhau, tuy khó nhưng luôn luôn cố gắng, đừng để lúc niệm Phật tiếng một nơi, tâm một ngã.
Đó là tu không đúng rồi, mà không đúng thì không thể được. Ví như anh thợ mộc muốn làm cái bàn, anh phải làm đúng phương pháp thì mới thành ra cái bàn. Do vậy, việc quan trọng trước nhất là phải tu đúng pháp. Trì danh niệm Phật mà tâm tiếng hiệp khắn nhau gọi là tu đúng pháp, còn sai trật thì không được gì.
Muốn được như vậy, tôi đã dùng chuỗi để hạn định thời gian, lúc đến chỗ mười câu mới lần một hột phải mất mấy tiếng đồng hồ mới rồi một xâu chuỗi. Mỗi thời niệm Phật như vậy, ngồi khoanh chân niệm thầm phải mất hai tiếng đồng hồ. Tu hành phải chịu khó, phải bền bỉ thì mới có chỗ được. Lúc tôi niệm thầm mười tiếng lần một hột chuỗi, trong mười tiếng đó tới câu số tám hoặc số chín mà xao lãng thì bỏ không lần qua, bắt đầu từ một trở lại. Thế nhưng lúc thành tựu được chút gì trên đường đạo (đạo lực), trong tâm an lạc khỏe lắm!
Tôi từng nghĩ, bản thân mình có làm cái gì, được cái gì, có làm có được, phải đến chỗ được cho thật vững vàng rồi mới đem cái mình đã từng làm, từng tu khuyên nhắc truyền dạy người khác. Nguy hiểm nhất là phàm phu tự ý nghĩ ra rồi viết thành sách, làm lầm người khác. Thế nên, đệ tử Phật phải lấy Thánh giáo lượng (lời Phật dạy trong kinh điển) làm mực thước để đo. Nếu đúng theo kinh thì chắc chắn tin theo, so lại mà chưa đúng thì cần kiểm tra suy xét cho kỹ. Nếu chưa được đạo đều gọi là phàm phu, tự ý nói thì không bảo đảm.
Mấy huynh đệ phải nhớ đừng nên bỏ phí thời gian. Về thiền tông, tôi cũng đọc nhiều bộ sách lớn như Thiền học tập thành, Thiền học đại thành. Nhiều người đọc đến đoạn ngài Triệu Châu khi có người đến tham học, ngài không chỉ dạy điều gì, chỉ kêu nói Uống trà đi! Người học lễ bái rồi lui ra. Đó là câu khai thị, nhưng người thường khó nhận khó hiểu, lại tưởng lầm rằng đã đắc thiền thì chỉ uống trà thôi!
Riêng về Pháp môn niệm Phật là pháp dễ tu, có mực thước rõ ràng mà hành giả đều có thể nắm vững để thực hành. Một phương pháp lúc tu hành có từng bước thật rõ, tu đúng hay không đúng dễ nhận biết. Tôi xem nhiều kinh sách nhận thấy Pháp môn Niệm Phật dễ nắm vững, thực hành cũng dễ, khi chưa được cũng biết chưa được, khi được thì cũng biết đã được, thật rõ ràng!
Thời gian gần đây, tôi không thể lạy Phật nên mong các huynh đệ đừng lễ lạy tôi, chỉ xá là được rồi! Mong tất cả đều tinh tấn tu hành.
HT.Thích Trí Tịnh

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên - Phần 3


Mỗi giờ, mỗi phút, niệm niệm quan tâm đến tất cả chúng sanh, nhất là chúng sanh khổ nạn. Phạm vi của khổ nạn rất sâu, rất rộng. Trong xã hội ngày nay, người có địa vị, có tiền của, họ cũng đang khổ nạn (việc này phần đông người thế gian lơ là). Họ khổ nạn ở chỗ nào vậy? Sau khi chết rồi họ liền đọa tam đồ, họ làm sao mà không khổ, làm sao mà không gặp nạn? Những người này mê muội trong ngũ dục lục trần, không thể tự giác ngộ. Họ học Phật, thực tế mà nói, kiểu học Phật của họ là tiêu khiển Phật pháp, bỡn cợt Phật pháp, đối với Phật pháp không biết một tí gì, họ không có duyên phận nghe kinh, nghiên  cứu giáo lý.





Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Đạo lý của cảm ứng rất sâu, sự tích của cảm ứng rất rộng. Cổ nhân khích lệ chúng ta rất nhiều, thương yêu chu đáo mọi bề. Cổ thư dạy bảo chúng ta, trong thế xuất thế gian pháp, tín tâm là nhân tố thành tựu đệ nhất. Không luận là mong cầu ở ngay trong đời này đạt được quả báo hạnh phúc mỹ mãn, hoặc là học Phật, hy vọng ngay trong đời này có thể vãng sanh Tịnh Độ, thân cận A Di Đà Phật cũng đều nhờ ở tín tâm, chúng ta phải nên cảnh giác đến. Phật ở trên kinh thường nói: “Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy”. Thọ mạng của con người rất là ngắn ngủi, một hơi thở ra mà không hít vào thì đã qua đời khác. Chúng ta có một niệm tín tâm, chính là một niệm thiện căn; niệm niệm tín tâm chính là niệm niệm thiện căn tăng trưởng. Phải nên cấp thời nỗ lực tu học, nhất định không thể chờ đợi. Nếu như bạn cho rằng vẫn còn ngày mai, vẫn còn năm tới, kiểu dáng ngơ ngơ ngác ngác, nhởn nhơ thì cả đời luống qua uổng phí, đến lúc lâm chung có hối cũng không còn kịp. Cho nên, chúng ta phải kiến lập tín tâm, phải tinh cần nỗ lực. Phật pháp không luận là tông phái nào, Hiển giáo, Mật giáo, v.v… Tổ sư đại đức đều dạy chúng ta phải tu từ căn bản. Cái gì là căn bản? Tâm là căn bản.

Trong thế pháp, Quảng Tử đã nói:

“Hỷ khí nghinh nhân như huynh đệ.

Nộ khí nghinh nhân, tàn ư binh qua”.

Lời nói này rất có đạo lý. Nhà Phật dạy chúng ta: “Tiếu diện nghinh nhân”. Các vị xem đạo tràng của nhà Phật, kiến trúc thứ nhất là điện Thiên Vương. Thờ phụng ở ngay trong điện Thiên Vương là Di Lặc Bồ Tát. Tạo tượng Di Lặc Bồ Tát là tạo tượng Bố Đại Hòa Thượng. Đây chính là dạy chúng ta phải dưỡng tâm, phải tu tâm, tâm phải lớn để có thể bao dung tha thứ, lấy hoan hỷ đối đãi tất cả chúng sanh, đối đãi tất cả mọi người. Đây là điều đầu tiên trong giáo dục của Phật Đà. 


Thành tựu của một người chính là ở đức hạnh. Đức hạnh chính là học vấn chân thật, vận dụng trí huệ chân thật. Khổng Tử là một người bình dân thông thường, không có địa vị, không có tiền của, vì sao Ngài có thể thành tựu thù thắng như vậy? Thích Ca Mâu Ni Phật tuy sinh ra ở hoàng tộc, nhưng Ngài đã từ bỏ tất cả địa vị, tiền của v.v…, thảy đều bỏ hết, trải qua đời sống bình dân thông thường, thành tựu của Ngài là gì? Thực tế mà nói chính là một tấm lòng thương yêu, thanh tịnh, bình đẳng, ái hộ tất cả chúng sanh. Chúng ta trong quá trình tu học của bốn mươi năm, sắp gần năm mươi năm, tổng kết lời giáo huấn của Phật Bồ Tát đã tìm ra một cương lĩnh. Khởi tâm động niệm, lời nói hành động của chúng ta đều có thể không trái với cương lĩnh này, y giáo phụng hành thì tự nhiên liền có thành tựu. 


Một đời tu học của tôi không có che dấu một chút nào, tất cả đều dâng hiến cho mọi người. Đầu tiên phải tu tâm chân thành, không nên sợ người ta dùng hư ngụy đối đãi với mình. Chúng ta phải đem tâm chân thành đối đãi người, phải hiểu rõ họ đem tâm hư ngụy đối đãi ta là đương nhiên, tại sao vậy? Vì đối với chân tướng sự thật họ không hiểu rõ, họ không biết được hư không pháp giới tất cả chúng sanh là đồng một duyên khởi, họ không biết được hư không pháp giới là do một niệm tự tánh biến hiện ra, cho nên họ dùng tâm không thành thật để đối nhân, tiếp vật là đương nhiên đó mà. Phật Bồ Tát minh bạch rồi, chúng ta tiếp nhận Phật pháp, hung đúc sắp gần 50 năm, chúng ta cũng minh bạch. Sau khi minh bạch rồi mà vẫn còn dùng tâm hư ngụy đối đãi với người thì đó là tội lỗi. Không hiểu rõ thì không hề gì, hiểu rõ rồi thì không thể được. 


Dưỡng tâm chân thành, tâm thanh tịnh của chính mình. Tâm thanh tịnh chính là xả bỏ tất cả chấp trước, buông bỏ thị phi nhân ngã, những thứ này không để ở trong lòng thì tâm bạn liền được thanh tịnh. 


Dưỡng tâm bình đẳng của chính mình, lìa khỏi tất cả vọng tưởng phân biệt, rời khỏi tất cả thị phi cao thấp thì tâm liền bình đẳng. Tâm thanh tịnh, bình đẳng chính là tâm chân thành, là tâm giác ngộ. Đem cái tâm này nhìn tất cả chúng sanh, nhìn tất cả vạn vật, lòng thương yêu tự nhiên liền lưu lộ ra. Cho nên, đề kinh Vô Lượng Thọ vì chúng ta nêu ra cương lĩnh tu hành là năm chữ: “Thanh Tịnh - Bình Đẳng - Giác”. Pháp môn Tịnh Độ chính là dựa trên thanh tịnh, bình đẳng mà hạ công phu. Thanh tịnh, bình đẳng là giác. Giác chính là chân thành, giác chính là từ bi. Đây là dưỡng tâm. 


Mỗi giờ, mỗi phút, niệm niệm quan tâm đến tất cả chúng sanh, nhất là chúng sanh khổ nạn. Phạm vi của khổ nạn rất sâu, rất rộng. Trong xã hội ngày nay, người có địa vị, có tiền của, họ cũng đang khổ nạn (việc này phần đông người thế gian lơ là). Họ khổ nạn ở chỗ nào vậy? Sau khi chết rồi họ liền đọa tam đồ, họ làm sao mà không khổ, làm sao mà không gặp nạn? Những người này mê muội trong ngũ dục lục trần, không thể tự giác ngộ. Họ học Phật, thực tế mà nói, kiểu học Phật của họ là tiêu khiển Phật pháp, bỡn cợt Phật pháp, đối với Phật pháp không biết một tí gì, họ không có duyên phận nghe kinh, nghiên  cứu giáo lý. Duyên phận của họ ở trong hí trường thế gian. Người thế gian thấy hạng người này sống rất hạnh phúc, có không ít người ngưỡng mộ, thảy đều là sai lầm! Những ngày tháng hoan lạc đó của họ có thể qua được mấy ngày? Sau khi qua hết rồi thì họ luân lạc đến ba đường ác. Sự việc này Phật Bồ Tát nhìn thấy rất rõ ràng, đây là chúng sanh khổ nạn. Cho nên loại khổ nạn này không thấy được, còn những cái khổ thiếu hụt cơm áo ở trước mắt thì rất rõ ràng, rất dễ thấy.

Những người đại phú đại quí không biết học Phật, không hiểu được tu tâm, trong khoảng chớp mắt là đọa tam đồ. Loại khổ nạn này bạn không thể thấy được, nên mọi người chúng ta bỏ sót mất. Những người bây giờ bần cùng hạ tiện, nhưng họ một ngày từ sớm đến tối biết niệm Phật. Chúng ta mở to mắt ra mà xem, qua vài năm nữa thì họ vãng sanh đến Tây Phương Cực Lạc làm Phật, làm Bồ Tát, họ không có khổ nạn. Người thế gian điên đảo, họ chỉ nhìn thấy trước mắt, không nhìn vào chiều sâu. Nếu chúng ta không học Phật, không có tu dưỡng thì cũng không biết, chúng ta làm gì có thể nghĩ đến những sự việc này?

Thế xuất thế gian Thánh hiền, chư Phật Bồ Tát chính là một cái tâm từ bi. Nhà Phật thường nói: “Từ bi vi bổn, phương tiện vi môn”, chính là cái tâm này. Lại lấy phương tiện khéo léo áp dụng trong đời sống, áp dụng trong đối nhân xử thế để giáo hóa chúng sanh. Áp dụng trong đời sống là tự hành; áp dụng trong đối nhân xử thế tiếp vật là hóa độ tha nhân. Tự hành, hóa tha là bổn trước Chân Thành – Thanh Tịnh – Bình Đẳng – Chánh Giác – Từ Bi. Họ thành tựu sự nghiệp của thánh hiền, siêu phàm nhập thánh. Việc hiếu đạo, họ có khả năng tận hiếu. Đối người tiếp vật thì họ có đầy đủ lòng nhân từ, nhân ái với người, thương yêu với vật. Gặp việc thiện, họ sanh tâm hoan hỷ, thành tựu việc tốt cho người. Gặp việc ác, họ có khả năng nhẫn chịu. Bạn tỉ mỉ mà quan sát, những người đó một niệm chân thành, hòa khí, đoàn kết, nên phước đức của họ không thể tính đếm được.

Các vị có thể xem thấy từ Thế Tôn, từ Khổng Tử. Phu tử một đời đối nhân xử thế là “Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Nhượng”. Hai vị đại đức này là mẫu mực cho chúng ta. Phật pháp không phải là tôn giáo, mà Phật pháp là sư đạo. Đức Khổng Tử và đức Phật Thích Ca đều là mô phạm, là tấm gương tốt nhất cho chúng ta. Cả hai đều làm công tác giáo dục, người thế gian tôn xưng các Ngài là nhà giáo dục xã hội. Chúng ta là đệ tử của thánh hiền, phải nên hướng đến các Ngài mà học tập.

Ấn Quang đại sư đặc biệt giới thiệu quyển sách này để cho chúng ta có một chỗ bắt tay vào. Đây chính là phương tiện khéo léo mà trong Phật pháp gọi là “Tối sơ phương tiện”. Chúng ta xem đoạn thứ nhất của bổn văn. Thái Thượng viết:

“Họa phước vô môn,

Duy nhân tự chiêu.

Thiện ác chi báo,

Như ảnh tùy hình”.

Bốn câu này là tổng cương lĩnh của Cảm Ứng Thiên. Toàn văn trên thực tế chính là chú giải của bốn câu này, thuyết minh một cách tỉ mỉ bốn câu này. Trong bốn câu, hai câu trước là chủ, hai câu sau là nền. Hai câu nói này nếu các vị tham thấu thì có thể hóa hung thành kiết, có khả năng thành thánh, thành hiền, cũng có khả năng làm Phật, làm Tổ.

Họa phước từ đâu mà đến? Là tự làm, tự chịu, do chính mình tạo ra. Đây là nguyên lý căn bản của cảm ứng. Phật pháp nói: “Phá mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc”, chẳng phải là hai câu nói này hay sao? Mê-ngộ là năng chiêu; khổ-lạc là sở chiêu; trí cùng lạc là phước; mê cùng khổ là họa. Đây là một thiên tông chỉ chủ yếu, là tổng thuyết tồn tâm của thánh hiền nhân. Chúng ta nếu muốn cầu phước, tránh họa, có thể làm được hay không? Cầu Phật Bồ Tát thần minh bảo hộ hay miễn xá tội lỗi cho chúng ta, đây đều là mê tín, không hợp nguyên lý của cảm ứng. Nếu các bạn đem hai câu nói này tham thấu, bạn sẽ không cần đi cầu thần minh bảo hộ, vì biết đó là mê tín.

“Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu”. Họa phước là tự mình tạo, tự mình tu thiện, tự mình hồi đầu là được phước; tự mình tạo ác mà không thể hồi đầu, đó là họa, không liên can gì đến người khác. Đạo lý này chúng ta phải hiểu, đây là chân lý. Trên kinh Đại thừa, Phật thường nói: “Phật không độ chúng sanh”, chúng sanh làm sao được độ? Là chúng sanh tự mình giác ngộ, tự mình độ mình. “Ta tự ngộ, tự tu, tự độ”, đây là Phật nói lời chân thật. Tự ngộ, tự tu, tự độ, đó chẳng phải là “duy nhân tự chiêu” hay sao? Ta đọa lạc tam đồ, đọa lạc đến địa ngục, cũng chẳng phải là người khác can thiệp đến, là tự mình tạo tác ác nghiệp chiêu cảm đến ác báo, làm sao có thể trách người? Phật Bồ Tát tuy rất từ bi nhưng không thể thêm cho chúng ta một chút phước, cũng không thể nào thay cho chúng ta chịu một ít tội, hay miễn thứ cho chúng ta một ít tội, vì các Ngài làm không được. Nếu Phật Bồ Tát làm như vậy thì chúng ta liền không thể tin tưởng các Ngài. Phật Bồ Tát dạy bảo chúng ta, hôm nay ta hưởng phước, phước từ nơi nào đến? Hôm nay ta thọ tội, tội từ nơi nào đến? Ngài đem chân tướng sự thật này nói cho chúng ta nghe tường tận, đem đạo lý giảng cho chúng ta nghe rõ ràng để chúng ta giác ngộ. Chúng ta không còn tạo ác nghiệp thì họa liền rời khỏi; chúng ta nỗ lực hành thiện thì phước liền hiện tiền, đây là lời giáo huấn chân thật của Phật Bồ Tát. Chúng ta nghe rồi, xem rồi, thấy hợp tình, hợp lý, hợp pháp thì vui vẻ tiếp nhận, tự cầu được phước. Cá nhân như vậy, gia đình như vậy, xã hội, quốc gia, thế giới cũng là như vậy. Hy vọng mọi người chúng ta tự mình trân trọng.

“Họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu”. Câu này nói rõ nguyên lý cảm ứng đạo giao. Văn tự tuy đơn giản, nhưng đạo lý sâu thẩm. Dùng nhãn quan khoa học ngày nay để nhìn cái gọi là cảm ứng tâm điện. Tâm là thật, điện là tỉ dụ. Tỉ dụ luôn không thể tỉ dụ đến được thỏa đáng, chỉ có thể tỉ dụ gần giống. Hiện tượng vật lý ở thế gian, tốc độ của điện là nhanh nhất, cùng với tốc độ ánh sáng là đồng nhau. Thế nhưng tốc độ cảm ứng của tâm còn nhanh hơn không biết bao nhiêu lần so với tốc độ ánh sáng và điện, nói đơn giản là không thể so sánh. Tốc độ của sóng điện một giây mới có ba mươi vạn cây số, còn trong tâm, tốc độ của ý niệm vừa sanh liền khắp hư không pháp giới. Chúng tôi trong lúc giảng đã nhiều lần nói qua với các vị, đây là nói nguyên lý của cảm ứng.

Trong “Hội Biên” nội dung rất phong phú, nêu ra rất nhiều công án, cố sự để chứng minh. Kỳ thật, những liệt cử chứng minh này nêu ra không hết. Chỉ cần chúng ta tĩnh lặng quan sát hoàn cảnh chung quanh, liền có thể thể nghiệm được cảm ứng là hiện tượng chân thật, người phương Tây gọi là chân lý. Đoạn thứ năm trong “Hội Biên” nêu ra một câu nói rất hay được trích từ trong “Đàn Kinh” của Lục Tổ Huệ Năng (đại sư Thiền tông đời Đường): “Nhất thiết phước điền, bất ly phương thốn”. Câu này là tổng thuyết, cùng một ý với “họa phước vô môn, duy nhân tự chiêu”.

“Phương thốn” chính là ý niệm của ta. Khởi tâm động niệm trong lòng liền cảm được kiết hung, họa phước. Quả báo nhỏ gọi là kiết hung, lớn thì gọi là họa phước. Phật ở trên kinh nói: “Kiết hung, họa phước đều do tâm tạo”, lại nói, “tội và phước”, hai việc này cùng “khổ và lạc”, hai loại quả báo này đều là do ba nghiệp thân-ngữ-ý tạo tác mà chiêu cảm. Người thế gian không hiểu được đạo lý này. Nếu như thông suốt đạo lý này, họ mới thực sự tự cầu đa phước. Không hiểu rõ đạo lý này, tùy thuận phiền não vọng tưởng của chính mình mà tạo tác, thì quyết định chiêu cảm họa hung. Chúng ta muốn tiêu trừ thiên tai nhân họa của thế gian này, có thể làm được không? Đáp án là khẳng định, quyết định có thể làm được. Dùng phương pháp gì? Giáo dục!

Lần này ở Âu châu, cục trưởng văn hóa đến thăm tôi, nói về vấn đề hòa hợp chủng tộc, hòa hợp tôn giáo. Làm thế nào để mọi người đều có thể buông bỏ thành kiến của chính mình, tôn trọng lẫn nhau, hòa thuận cùng ở với nhau? (Bởi vì ông ấy ở Âu Châu chủ quản những sự vụ này). Tôi nói với ông ấy một câu, đó là “Giáo dục”. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc dạy bảo chúng ta, “kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Bạn kiến lập một chánh quyền, kiến lập một quốc gia, bạn dùng phương pháp gì để thống trị nhân dân? Giáo dục là trước nhất. Ngày nay, nếu muốn đạt đến xã hội hài hòa, thế giới hòa bình, ngoài giáo dục ra thì không có biện pháp thứ hai. Nội dung của giáo dục là gì? Chính là đạo lý của cảm ứng. Nếu đem đạo lý làm cho rõ ràng, đem chân tướng sự thật làm cho thông suốt, khởi tâm động niệm của chúng ta tự nhiên sẽ tốt hơn. Chúng ta nỗ lực hành thiện, tiêu chuẩn của thiện là thập thiện nghiệp đạo. Nhiều người đều có thể phụng hành thập thiện nghiệp đạo thì thiên tai nhân họa tự nhiên không còn nữa, không thể phát sinh.

Phật ở trên kinh giảng, nếu như vọng tưởng ý niệm của chúng ta tùy thuận theo sân hận, tùy thuận theo đố kỵ, tà dâm thì hiện tượng địa ngục liền hiện tiền. Địa ngục từ đâu đến, ta cần phải hiểu rõ. Nếu như tùy thuận san tham, tham không biết chán, tự mình có nhưng không thể xả ra bố thí là tạo nghiệp ngạ quỷ, cảnh giới ngạ quỷ liền hiện tiền. Nếu như tùy thuận ngu si, cái gì gọi ngu si? Thế xuất thế gian pháp không có năng lực phân biệt chân-giả, không có năng lực phân biệt tà-chánh, không có năng lực phân biệt phải-quấy, thậm chí đến thiện-ác, lợi-hại đều điên đảo, đây là ngu si. Ngu si là hành nghiệp của súc sanh. Cho nên tham sân si là nghiệp nhân của ba ác đạo. Chúng ta bình lặng quan sát quảng đại quần chúng trong xã hội này, ai mà không có tham sân si? Không những có, mà còn đang không ngừng phát triển với tốc độ tăng trưởng thật đáng lo sợ. Tham sân si, những ý niệm này tăng trưởng thì ba đường ác hình thành nên rất nhanh. Sợ chúng ta chưa kịp đọa vào ba đường ác thì e rằng xã hội này đã biến thành địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rồi. Các vị thử nghĩ xem, điều này có đáng sợ không?

Ngày nay có một số người giác ngộ, những nhân chí sĩ muốn cứu vãn xã hội này, như Ấn Quang Đại sư, Ngài dẫn đầu chúng ta, khải thị, bảo chúng ta cứu cấp kiếp nạn này. Đạo lý của nhà Nho không còn kịp nữa, đạo lý của nhà Phật cũng không còn kịp, nên Ngài mới đề xướng Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên và Văn Xương Đế Quân Âm Trắc Văn để cứu khổ, cứu nạn.

Trong tất cả ác nghiệp, sát nghiệp và dâm nghiệp là nặng nhất. Cho nên đối với hai loại ác nghiệp này, trong An Thế Toàn Thư, dùng độ dài của bài viết đặc biệt nói rõ, nhắc nhở để chúng ta chú ý. Hai loại ác nghiệp này là đại tội căn bản của họa hung. Thập thiện có thể cứu vãn vận kiếp. Niệm Phật là thiện pháp đệ nhất. Sau cùng họ có “Tây Quy Trực Chỉ”, khuyên dạy chúng ta niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc.

Nghiệp nhân của ba đường ác, chúng ta hiểu rõ rồi, còn ba đường thiện. Trong ba đường thiện, cõi A Tu La tuy có thể hành thiện, tâm hạnh cùng với thập thiện nghiệp đạo tương ưng, thế nhưng tập khí ngạo mạn của họ quá nặng, nóng nảy quá nặng, tâm hiếu thắng cũng quá mạnh nên đọa đến cõi A Tu La. Nếu có thể kiên trì giữ ngũ giới, thập thiện, khởi tâm động niệm, đối nhân xử thế tiếp vật tuân thủ nguyên tắc này thì có thể được thân người. Nếu như có thể đem thập thiện nghiệp đạo nâng cao, làm được rất viên mãn thì đó là Thiên đạo. Trong giáo dục Phật pháp, mục tiêu thứ nhất là dạy người đoạn ác tu thiện. Đây chính là bảo chứng cho chúng ta đời sau không đọa ác đạo, ngoài ra còn có thể được phước báu trời người, nhưng không thể siêu việt tam giới, siêu việt sáu cõi luân hồi.

Người thông minh hơn một chút biết được ba đường thiện cũng không phải là biện pháp, không có khả năng giải quyết gốc rễ, nên phải hướng cao lên, siêu việt tam giới, như A La Hán đã biết được nhân ngã, biết được chân tướng sự thật, giống như trong kinh Kim Cang đã nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”. Cho nên, buông bỏ chấp trước đối với ta chính là Phật pháp thường nói “vô ngã”, cũng chính là hữu ngã thì có sáu cõi luân hồi; vô ngã thì sáu cõi luân hồi liền không có. Siêu việt sáu cõi luân hồi thì chứng được quả A La Hán.

Nếu như họ hiểu rõ những hiện tượng này trong vũ trụ là duyên khởi, tánh không. Những hiện tượng này từ đâu đến? Sáu cõi từ đâu đến? Mười pháp giới từ đâu đến? Tất cả những hiện tượng này là đồng một duyên khởi. Hiểu rõ đạo lý này thì ngay đến chấp trước nhỏ nhất cũng xả bỏ, vì biết được chấp trước là sai lầm. Cảnh giới này cao hơn so với A La Hán, có thể chứng được địa vị Bích Chi Phật.

Giác ngộ nhân không, lại có thể phát tâm giúp đỡ tất cả chúng sanh, dạy bảo tất cả chúng sanh học tập lục độ, đó chính là sự nghiệp của Bồ Tát.

Nếu lại đem từ bi chân thành, từ bi bình đẳng tự độ, độ người, đây chính là sự nghiệp của Phật. Những lời này Phật đã nói và đã làm, đây là giảng nói đến chánh báo. Phật là người, Bồ Tát cũng là người. Chỉ cần một niệm hồi đầu liền siêu phàm nhập thánh, tại vì sao chúng ta không nỗ lực, không nghiêm túc học tập? Học tập theo Phật Bồ Tát được đại kiếp đại lợi, phước báu vô biên.

Kiết hung họa phước “vô môn”, chính là không nhất định, không có định pháp, đều ở trong một niệm của con người. Người phàm chỉ biết một niệm thiện ác, không biết được trong thiện ác còn có khác biệt nhiều đến như vậy. Phật pháp giảng cho chúng ta nghe một cách thấu triệt, chánh báo của chúng ta chuyển rồi thì y báo liền theo đó mà chuyển đổi (y báo là hoàn cảnh chúng ta đang ở). Trên kinh Hoa Nghiêm đã nói, thế giới Hoa Tạng là hoàn cảnh sinh hoạt của Tỳ Lô Giá Na Phật. Lại xem, thế giới Cực Lạc là hoàn cảnh sinh hoạt của A Di Đà Phật, gọi là hương đài, bảo thọ. Thanh tịnh, trang nghiêm từ đâu mà ra vậy? Đều là từ chân thành, từ bi, bình đẳng giáo hóa chúng sanh mà chiêu cảm biến hiện ra.

Ngày nay, chúng ta cư trú trên địa cầu này (địa cầu là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta), mọi người đều nhìn thấy, đều nghe thấy địa cầu này đã bệnh rồi, bệnh rất nghiêm trọng, nơi nơi đều là thiên tai nhân họa. Thiên tai nhân họa từ nơi nào đến vậy? Từ tham sân si mà biến hiện ra. Tâm tham nặng thì thủy tai liền hiện tiền; tâm sân nhuế nặng thì hỏa tai liền hiện tiền; ngu si là phong tai; tâm địa không bình đẳng là địa chấn. Xã hội đại chúng bây giờ có tâm trạng như thế nào thì sẽ chiêu cảm những thiên tai nhân họa như thế đó. Cho nên tôi thường nói, thiên tai nhân họa có thể tiêu trừ, có thể hóa giải, nhưng những sự việc này chính trị không làm được, quân sự vũ lực không làm được, kinh tế không làm được, khoa học kỹ thuật cũng không làm được, mà do ở lòng người phải chuyển biến nhân tâm, chỉ có sự dạy dỗ của thánh hiền mới có thể làm được. Giáo học của thánh hiền là giáo học bình đẳng.

Tôi tiếp xúc và trò chuyện với rất nhiều lãnh tụ tôn giáo trên thế giới. Bây giờ mọi người đều ý thức được rằng tai nạn thế gian này thật đáng sợ. Họ đều mong cầu chúng ta làm sao có thể hòa bình, hòa thuận cùng ở với nhau, có thể hợp tác lẫn nhau. Ý thức này rất là tốt. Trong Phật pháp nói, thỉ giác bắt đầu giác ngộ rồi. Đây là một hiện tượng tốt. Nếu muốn thực hiện nguyện vọng của chúng ta thì phải qua giáo dục. Tôi nói với họ, bây giờ tôn giáo không có cách gì giải quyết vấn đề, bởi vì chúng ta chỉ có “Tôn” mà không có “Giáo”, mọi người nghĩ thử xem có đúng hay không? Tôi đã nói trong hội nghị hòa bình tôn giáo thế giới ở Paris, chúng ta có “tôn”, cần phải coi trọng “giáo dục”. “Tôn giáo”, giáo là giáo dục, làm thế nào dạy bảo tín đồ của các vị phát huy đại ái bình đẳng. Trong Thiên Chúa giáo, Ki Tô giáo nói “Thượng đế ái thế nhân”. Các vị nghĩ xem, câu nói “Thượng đế ái thế nhân” này tuyệt nhiên không phải nói Thượng đế chỉ yêu thương tín đồ của Ngài. Người tín ngưỡng Thượng đế thì Thượng đế yêu thương họ; người không tín ngưỡng Thượng đế, Thượng đế vẫn yêu thương họ, bởi vì Ngài yêu tất cả thế nhân mà, không thể nói có khác biệt ở trong đó. Nhà Phật nói nhân từ bình đẳng, ái hộ tất cả chúng sanh. Dùng tâm yêu thương chân thành ban pháp vô tư, vì tất cả chúng sanh phục vụ vô điều kiện, vậy thì vấn đề này liền được giải quyết. Nếu còn mang điều kiện thì không thể giải quyết được vấn đề, cho nên phải vô điều kiện mà vì tất cả chúng sanh phục vụ. Chúng ta học rồi thì phải làm được. Học rồi mà không làm được vậy có ích gì? Ta chiêu cảm đến vẫn là tai nạn. Sau khi học rồi thì phải lập tức áp dụng, phải làm cho được.

Ngày nay chúng ta thăm hỏi các tôn giáo, các dân tộc, chúng ta phải đem lòng yêu thương chân thành, vô tư cúng dường, nhiệt tình giúp đỡ. Chúng ta được lời hưởng ứng, chứng minh Phật Bồ Tát đã nói, chứng minh “Thái Thượng” đã nói là “duy nhân tự chiêu”. Chúng ta chiêu cảm đến là rất nhiều chúng sanh cũng yêu mến đối với chúng ta. Từ điểm này, chúng ta liền có thể thể hội một cách sâu sắc, xã hội an định thế giới hòa bình là có hy vọng. Phải nhờ vào các tôn giáo trên khắp thế giới nhiệt tâm dẫn dắt, phát huy đại ái, vậy mới có thể giải quyết tai họa trước mắt. Cái ý này chúng ta nên thể hội sâu sắc.

Tốt rồi, thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 03)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên - Phần 2


Cung tên chỉ giết hại một súc sanh, tội lỗi này cũng đã cực trọng rồi. Phật ở trên kinh nói rất hay: “Người chết làm dê, dê chết làm người”, oan oan tương báo không thể ngừng dứt. Bạn giết hại một súc sanh, nghiệp báo còn không thể tránh khỏi, nếu bạn giết hại nhiều người đến như vậy, làm sao tránh khỏi đọa địa ngục? Người thế gian thường nói “vĩnh kiếp không thể đầu thai”, lời nói này là thật, không phải giả. Tôi đã nói qua rất nhiều lần, vẫn phải nói rất nhiều lần nữa, tại sao vậy? Vì các bạn không ghi nhớ, không thể hội được cái ý này.


Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 02)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore
 


Trong “Dịch Kinh” cổ xưa của Trung Quốc nói rõ:

Tích thiện chi gia,

Tất hữu dư khánh;

Tích bất thiện chi gia,

Tất hữu dư ương.
“Tất” là tất định, là chữ rất khẳng định, cũng chính là nói nhân quả báo ứng là sự thật nhất định, người thế gian gọi là chân lý. Nếu một người có thể tu thiện tích đức thì con người này nhất định phát phước, phước báo tự nhiên sẽ hiện tiền. Nếu như một người tạo tác đều là bất thiện, thì cho dù gia đình họ, tổ tông cha mẹ của họ có phước báu, họ sanh vào nhà phú quý, nhưng nhất định họ sẽ thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát. Những sự tích này trong lịch sử cổ đại ghi chép lại rất nhiều. Nếu chúng ta tỉ mỉ quan sát xã hội bây giờ, không luận ở trong nước, ngoài nước, bạn đều có thể nhìn thấy. Điều này chứng minh những lời cổ nhân đã nói là chuẩn xác. Đạo lý của cảm ứng chính là muốn chúng ta nhận thức nhân duyên quả báo, hiểu rõ nhân duyên quả báo, khẳng định sự thật của nhân duyên quả báo, làm thành tiêu chuẩn làm người ngay đời này của chúng ta. Khi đó khởi tâm động niệm, lời nói, tạo tác của chúng ta tự nhiên liền có thể thu lại, liền có thể ràng buộc, biết hướng đến cái tốt, tránh cái xấu; biết được đoạn ác tu thiện. Đây gọi là giáo dục, là giáo hóa của thánh hiền nhân.
Xã hội đời nay có giáo dục hay không? Có thể nói là không. Quốc gia làm nhiều trường học đến như vậy, rốt cuộc là vì cái gì? Tôi nhớ lại lúc mới xuất gia, khi đang quét rác ngoài cửa chùa Lâm Tế ở Viên Sơn (khu vườn ngoài cửa rất lớn, có rất nhiều cây, mỗi ngày phải đi quét lá cây rụng), tôi gặp mấy người học sinh đi từ con đường đó lên Viên Sơn chơi, cử chỉ hành vi của họ không giống người có học. Sau khi xem thấy, tôi rất cảm thán, nên nói với một vị cùng quét với tôi (chúng tôi, mấy sư huynh đệ nói chuyện với nhau): “Đáng tiếc, những người này chưa nhận qua sự giáo dục”. Vậy mà người kia nghe được (họ có ba người cùng đi), họ liền quay đầu lại hỏi tôi: “Ông nói chúng tôi chưa nhận qua giáo dục có phải không?”. Tôi nói: “Đúng vậy, không sai! Không giống như người nhận qua giáo dục”. Họ nói: “Chúng tôi là học sinh năm thứ tư của đại học pháp học viện Đài Loan, ông làm sao có thể nói chúng tôi chưa nhận qua giáo dục?”. Họ lý luận với tôi như vậy. Tôi nói: “Tốt lắm! Các vị nói, các vị đã nhận qua sự giáo dục, tôi hỏi các vị, chữ “Giáo” giảng giải như thế nào, chữ “Dục” giảng như thế nào và “Giáo dục” giảng giải như thế nào? Hãy giảng cho tôi nghe”. Họ không thể nói ra được, thế là uy phong đó của họ liền hạ thấp xuống. Học sinh của bốn mươi năm trước so với học sinh bây giờ không giống nhau, uy phong của họ liền xuống thấp, họ hỏi ngược lại tôi, thỉnh giáo với tôi. Tôi liền nói với họ: “Giáo dục là đạo lý dạy bạn làm người, các vị đã học qua chưa? Giáo dục cổ xưa của Trung Quốc, từ Hạ, Thương, Châu ba đời, mãi đến năm cuối đời nhà Thanh, tông chỉ đều không có thay đổi. Trong giáo dục có ba mục đích:
- Thứ nhất là dạy bạn quan hệ giữa người và người. Hiếu thuận phụ mẫu, tôn kính sư trưởng, thương yêu anh em, thân ái bạn bè, dạy bạn những thứ này.
- Thứ hai là dạy bạn hiểu rõ quan hệ giữa người và đại tự nhiên.
- Thứ ba là dạy bạn hiểu rõ quan hệ giữa con người và trời đất quỷ thần.
Các bạn đã học qua chưa? Các bạn chưa hề học qua. Đem áp dụng trong đời sống, giáo dục tiểu học dạy bạn tưới nước, quét đất, ứng đối, các bạn đã học qua chưa? Vẫn chưa học qua. Tôi xem kiểu dáng này của các bạn thì biết là các bạn chưa nhận qua giáo dục này”.
Họ hỏi ngược lại tôi: “Bây giờ chúng tôi đang học đại học, vậy được xem là cái gì?”. Tôi nói: “Bạn hỏi được rất hay! Hiện giờ các bạn đang học là tri thức chuyên tập sở. Tôi gọi tên này, các bạn cảm thấy có đạo lý hay không? Bảng hiệu của đại học đó phải nên lấy xuống. Cao đẳng tri thức chuyên tập sở là danh xưng đúng với thực tế, nó không phải là giáo dục đại chúng phổ biến”.
Ngày nay mọi người đều đã đem giáo dục bỏ quên mất, cho nên xã hội động loạn, đời sống nhân dân khó khăn, không phải là không có nguyên nhân. Xã hội chỉ biết truyền thụ khoa học kỹ thuật, đem căn bản giáo dục bỏ mất. Ngài Thanh Liên đại sư ở trong luận quán Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh tiết lục ra ba mục tiêu giáo dục của nhà Phật.
- Thứ nhất, dạy người đoạn ác tu thiện.
- Thứ hai, dạy người chuyển mê thành ngộ.
- Thứ ba, dạy người chuyển Phàm thành Thánh.
Lúc giảng kinh tôi cũng hay nhắc đến, dạy bạn chuyển ác làm thiện chính là giúp bạn nhất định không đọa ba đường ác đời này, đời sau bạn vẫn cứ có thể hưởng phước báo nhân thiên. Đây gọi là giáo dục.
Thứ hai là chuyển mê thành ngộ. Đây là siêu việt sáu nẻo luân hồi, chứng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật (pháp giới bốn Thánh trong mười pháp giới). Chuyển mê thành ngộ là đem cảnh giới đời sống của bạn không ngừng nâng cao hướng lên trên. Đây là giáo dục.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển phàm thành thánh. Đó là siêu việt mười pháp giới, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Đây là giáo dục.
Chúng ta nhìn lại xem, xã hội ngày nay dạy cái gì? Dạy bạn khoa học, dạy bạn những năng lực này. Sau khi bạn học xong những năng lực này thì tạo nghiệp. Mấy ngày trước có một vị đồng tu ở Âu châu đến nói với tôi, phần tử tinh anh nhân tài kiệt xuất của xã hội chính là những nhà khoa học. Những phần tử tinh anh kiệt xuất nhân tài này tạo bom nguyên tử, tạo vũ khí hạt nhân. Họ thông minh tuyệt đỉnh, tạo ra những thứ này tương lai giết người, một đầu đạn nguyên tử giết mấy mươi vạn người, mấy trăm vạn người, nó có thể giết chết nhiều người đến như vậy, quả báo nhất định là ở địa ngục. Kiệt xuất nhân tài này tương lai họ sẽ đi đến nơi nào vậy? Đến A Tỳ địa ngục, họ đi rất nhanh. Giáo dục Nho gia Trung Quốc, giáo dục nhà Phật tuyệt đối không dạy người làm những sự việc này. Bạn xem trong giới luật của kinh Phật, chế tạo những công cụ để giết hại chúng sanh đều là trọng tội sát sanh. Ngày xưa tạo ra những thứ công cụ gì? Đó là cung tên. Cung tên chỉ giết hại một súc sanh, tội lỗi này cũng đã cực trọng rồi. Phật ở trên kinh nói rất hay: “Người chết làm dê, dê chết làm người”, oan oan tương báo không thể ngừng dứt. Bạn giết hại một súc sanh, nghiệp báo còn không thể tránh khỏi, nếu bạn giết hại nhiều người đến như vậy, làm sao tránh khỏi đọa địa ngục? Người thế gian thường nói “vĩnh kiếp không thể đầu thai”, lời nói này là thật, không phải giả. Tôi đã nói qua rất nhiều lần, vẫn phải nói rất nhiều lần nữa, tại sao vậy? Vì các bạn không ghi nhớ, không thể hội được cái ý này.
Thế giới vốn dĩ chính là đa nguyên, nếu muốn đem nó biến thành nhất nguyên thì không thể được. Làm sao biết không thể được? Thân thể này của chúng ta là tiểu vũ trụ, hoàn cảnh bên ngoài là đại vũ trụ. Đại vũ trụ cùng tiểu vũ trụ hoàn toàn tương đồng. Đại vũ trụ phức tạp thế nào thì tiểu vũ trụ này của chúng ta cũng phức tạp thế đó. Nhà Phật nói y báo và chánh báo là tương đồng. Thân thể chúng ta chính là đa nguyên, con mắt không phải là lỗ tai, lỗ tai không phải lỗ mũi, lỗ mũi không phải cái lưỡi, đa nguyên đấy mà, bạn làm sao có thể thống nhất? Nếu nói thân thể này của tôi cái gì cũng không cần, chỉ cần con mắt, có được hay không? Không thể được! Vậy bạn mới hiểu được đa nguyên. Chẳng những đa nguyên, mà bạn còn cảm thấy mỗi cái đều đệ nhất. Mắt là đệ nhất, tai là đệ nhất, lưỡi cũng là đệ nhất, thảy đều là đệ nhất, không có đệ nhị. Có đệ nhị thì đánh nhau rồi, nên không có đệ nhị. Từ chỗ này bạn có thể thể hội được, trong vũ trụ vạn sự, vạn pháp mỗi mỗi đều đệ nhất, không có đệ nhị. Khi tiếp xúc với các tôn giáo khác, tôi cùng với các vị lãnh đạo những tôn giáo này thường nói đệ nhất, Ki Tô giáo của bạn đệ nhất, Hồi giáo cũng đệ nhất, vấn đề của mọi người liền được giải quyết. Kinh Phật của chúng ta đệ nhất, Thánh kinh của bạn cũng đệ nhất, kinh Cô Ran cũng đệ nhất, tất cả vấn đề đều hóa giải, mọi người liền có thể cùng hòa thuận với nhau. Tôi là thật, bạn là giả thì làm sao không đánh nhau? Đánh đến chết đi sống lại, tạo tác tội nghiệp cực trọng, dẫn đến oan oan tương báo.
Phật nói mê-ngộ, phàm-thánh chính ở một khoảng mê và ngộ. Một niệm giác ngộ chính là Phật, là Bồ Tát, là Thánh nhân. Ngộ cái gì? Ngộ vạn pháp bình đẳng, mỗi cái đều đệ nhất. Các vị xem kinh Hoa Nghiêm, từ đầu đến cuối có đệ nhị hay không? Tìm không ra, mỗi mỗi đều đệ nhất. Trong kinh Lăng Nghiêm, các vị cũng đã đọc qua “Nhị Thập Ngũ Viên Thông Chương”, hai mươi lăm vị Bồ Tát này mỗi vị đều đệ nhất, không có nói vị nào là đệ nhị. Khi biết được mỗi pháp đều bình đẳng, mỗi cái đều đệ nhất, chúng ta mới có thể tôn trọng lẫn nhau, tâm tôn trọng người khác, tâm kính yêu người khác tự nhiên liền sanh ra. Đây mới có thể giải quyết vấn đề xã hội, có thể mang đến sự an định xã hội, thế giới hòa bình. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng, đều có thể trải qua đời sống hạnh phúc mỹ mãn. Chúng ta thấy xã hội hiện nay, các cấp lãnh tụ thường nói những lời này ở trên miệng, thế nhưng kết quả đích thực lại là nhiễu loạn xã hội, phá hoại hòa bình. Lời nói và việc làm hoàn toàn trái nghịch nhau, nguyên nhân ở đâu vậy? Thành thật mà nói, chưa nhận qua giáo dục. Thời đại hiện nay, vấn đề đã phát triển đến giai đoạn cực nghiêm trọng, gọi là thế giới sắp bị hủy diệt, Ki Tô giáo, Thiên Chúa giáo nói ngày cùng của thế giới. Ngày cùng ở lúc nào vậy? Là năm nay năm 1999. Chúng ta cũng xem là rất may mắn gặp được lúc này. Đại tai nạn này có thể hóa giải hay không? Có thể! Phật nói với chúng ta: “Y báo tùy theo chánh báo chuyển”. Thiên tai nhân họa là y báo, chánh báo là nhân tâm. Chúng ta cần phải đoạn ác tu thiện, phá mê khai ngộ, tai nạn này liền được hóa giải.
Thôn Di Đà của chúng ta duyên vẫn chưa chín muồi. Trước tiên chúng ta xây dựng niệm Phật đường, xây dựng giảng đường. Tôi ở Singapore giảng kinh đến nay đã mười hai năm rồi, được Lý Mộc Nguyên cư sĩ nhiệt tâm hộ trì là điều rất khó được. Trang nghiêm đạo tràng ở Cư sĩ Lâm, các bạn nhìn xem niệm Phật đường, xem giảng đường, chúng ta tại vì sao phải làm như vậy? Vì tất cả chúng sanh tiêu tai, tiêu nạn. Chúng ta giảng kinh vì ai? Vì hư không pháp giới tất cả chúng sanh mà giảng, vì chư Phật Bồ Tát mà giảng. Tại vì sao chúng ta niệm Phật? Quyết không phải vì cầu cho chính mình, mà vì tiêu tai giải nạn cho tất cả chúng sanh thế giới này. Vì chính mình thì công đức rất nhỏ, vì tất cả chúng sanh thì công đức rất lớn. Trong Phật pháp thường nói “tích công bồi đức”, không phải ở trên sự tướng mà ở trên tâm. Tâm lượng của bạn lớn, cái gì gọi là tâm lượng lớn? Niệm niệm vì xã hội, niệm niệm vì chúng sanh thì tâm lượng này lớn. Niệm niệm vì chính ta, niệm niệm vì gia đình của ta, vì đoàn thể nhỏ của ta, vì đạo tràng nhỏ của ta thì công đức này nhỏ. Đây chính là y báo tùy theo chánh báo chuyển mà Phật đã nói.
Chánh báo là gì? Chánh báo chính là tâm ta. Tất cả vạn pháp duy tâm sở hiện, duy thức sở biến, cho nên tâm có thể chuyển được cảnh giới, tâm có thể chuyển được vạn pháp. Học Phật phải từ chỗ nào mà học? Phải học cái tâm của Phật Bồ Tát, học tri kiến của Phật Bồ Tát, học hành nghi của Phật Bồ Tát, trong này tối trọng yếu là tâm nguyện. Các Ngài giữ cái tâm gì, phát cái nguyện gì? Đây là căn bản. Căn bản chính xác rồi thì không có cái nào là không chính.
Cảm Ứng Thiên là từ thánh hiền lập tâm phát nguyện, luôn được áp dụng trong đời sống thường ngày đối nhân, xử thế, tiếp vật. Cổ đức đã nói, công dụng của nó có thể làm thành nấc thang siêu phàm nhập thánh, là then chốt để chuyển họa thành phước. Ngày xưa, mỗi một triều đại ở Trung Quốc, người y theo bài này để tu học rất nhiều, họ được quả báo của cảm ứng rất thù thắng. Trong Hội Biên đã dẫn những nhân duyên công án này, bây giờ chúng ta gọi là chuyện xưa. Người phụng hành theo Cảm Ứng Thiên thì họ có được thiện báo, còn người tạo tác ác nghiệp thì thọ những ác báo. Sự thâu tập này có thể nói là rất phong phú, chúng ta đã được xem. Trên thực thế, sự thâu tập những nhân duyên công án này rất là hạn hẹp, còn sự tích của cảm ứng thì nhiều không kể xiết. Chỉ cần chúng ta tỉ mỉ quan sát, có rất nhiều công án đều ở chung quanh chúng ta, chúng ta làm sao có thể không tin tưởng, làm sao có thể không y giáo phụng hành? Ấn Quang đại sư lấy Cảm Ứng Thiên làm nền tảng tu học Tịnh Độ là rất có đạo lý. Một người có thể chân chính phụng hành “Cảm Ứng Thiên” và niệm Phật, phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ thì quyết định có thể nắm chắc vãng sanh. Nếu như lời nói, việc làm của bạn hoàn toàn trái nghịch với “Cảm Ứng Thiên” thì bạn niệm Phật không thể vãng sanh. Ấn Tổ cả đời cực lực đề xướng, đây là trí huệ cao độ, là tâm đại từ đại bi của Ngài. Chúng ta phải nên biết, phải nên tôn trọng, phải nên cảm ân, phải nên y giáo phụng hành, đây mới là báo đáp.
Trung Quốc từ xưa đến nay, phần đông đại chúng trong xã hội đều rất coi trọng Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, người y theo phương pháp này tu học rất nhiều, cảm ứng đạt được cũng bất khả tư nghì. Cảm Ứng Thiên Hội Biên là sự hội tập rất nhiều sự tích của cảm ứng, hiển lộ công tích rất lớn. Cổ nhân khuyên dạy chúng ta, tâm địa con người phải thuần hậu.
Lần này tôi đến Âu Châu chỉ có bốn ngày, các vị đồng tu cũng không bỏ qua, muốn tôi dùng thời gian bốn ngày này, đem đại ý của Liễu Phàm Tứ Huấn giới thiệu cho mọi người. Đạo lý của cảm ứng, vừa mở đầu liền đã nói rõ, trong “Dịch Kinh” gọi là “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương”. Giữ tâm hậu đạo nhất định có hậu phước; giữ tâm không tốt, cho dù hoàn cảnh trước mắt rất thịnh vượng, thế nhưng không bao lâu ắt cũng sẽ suy thoái. Lý luận và sự thật này, xưa nay trong ngoài, chỉ cần chúng ta tỉ mỉ quan sát đều có thể nhìn thấy, hơn nữa còn thấy được rất rõ ràng. Không luận là cá nhân, không luận là gia đình, xã đoàn, hoặc giả là quốc gia, sự thịnh vượng đều ở chỗ tồn tâm hậu đạo, đoạn ác tu thiện.
Cổ nhân nói, phàm là người minh bạch đạo lý thì phải đem thiên văn tự này lưu thông rộng khắp. Chúng ta phải nên học tập Ấn Quang đại sư, Ngài ở ngay trong một đời toàn tâm toàn lực lưu thông bộ sách này. Ngoài ra còn có Liễu Phàm Tứ Huấn, An Sĩ Toàn Thư. Ba cuốn sách này có số lượng lưu thông vượt khá xa kinh điển Phật pháp. Ấn Quang đại sư làm như vậy là dụng ý gì? Chẳng phải là cứu vãn kiếp nạn thế gian hiện tại hay sao? Kiếp nạn này rất nghiêm trọng, chúng ta cần nhận thức rõ ràng. Kiếp nạn từ cái gì tạo thành? Từ nhân tâm, nhân hạnh mà ra, tâm hạnh bất thiện liền tạo thành kiếp nạn. Nhà Phật thường nói: “Y báo tùy theo chánh báo chuyển”. Y báo là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta, chánh báo là nhân tâm, là hành vi. Nhân tâm thiện thì hoàn cảnh đời sống chúng ta liền tốt; lòng người bất thiện thì hoàn cảnh liền đổi xấu đi. Cho nên, quyển sách này nhất định phải đọc thuộc, nghĩ sâu, khích lệ phụng hành. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói hành động, nghĩ xem cùng với lời giáo huấn của “Cảm Ứng Thiên” có tương ưng hay không? Nếu tương ưng thì chúng ta có thể nghĩ, có thể nói, có thể làm; không tương ưng thì không thể được. Cho nên nhất định phải đọc thuộc trước, phải thường thường tư duy nghĩa lý ở bên trong. Đọc thuộc, nghĩ sâu, nỗ lực phụng hành thì tiền đồ của bạn là sáng lạn vô hạn.
Tôi bắt đầu học Phật năm hai mươi sáu tuổi. Rất nhiều bạn đồng tu đều biết, tôi không có phước báo, cũng không có tuổi thọ. Không chỉ một người, mà rất nhiều người xem tướng đoán mạng cho tôi  đều nói tôi không qua khỏi tuổi 45. Tôi tin, vì rất nhiều đời trong nhà tôi đều không qua được 45 tuổi. Tôi không có phước báo là do trong đời quá khứ tôi không có tu phước. May mắn tôi vẫn còn một chút thiện căn, vẫn còn một chút thông minh trí tuệ đủ để tiếp nhận thiện pháp. Năm đó, lão cư sĩ Chu Kính Vũ đem Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên giới thiệu cho tôi. Sau khi đọc xong, tôi cảm thụ rất sâu sắc, biết được khuyết điểm của mình liền sửa đổi tự làm mới. Tôi học nhẫn nhục, học nhường nhịn. Bây giờ vẫn còn một chút thọ mạng và dường như vẫn còn một chút phước báo. Phước báo này không phải là của đời trước tu mà do chính đời này đã tu được, thực tế mà nói, đắc lực ở lời dạy dỗ của Ấn Tổ. Ba loại sách này tôi đều đã giảng qua rất nhiều. Lần này các vị đồng tu mời tôi giảng lại lần nữa. Tôi nói, tốt lắm, đây cũng chính là lúc mọi người học Phật công phu không đắc lực, niệm Phật không thể được công phu thành khối, tham thiền không thể được thiền định, nghiên giáo không thể được viên giải, nguyên nhân ở chỗ nào vậy? Chúng ta phải tìm cho ra nguyên nhân này, tiêu trừ nhân tố đó thì không luận tu học pháp môn nào, công phu liền được đắc lực.
Hiện nay thế giới này, mỗi một khu vực đều xảy ra tai nạn nhiều lần, năm sau nhiều hơn năm trước, lần sau nghiêm trọng hơn lần trước. Chúng ta cần phải có tâm cảnh giác. Tháng trước, có một vị đồng tu ở Âu Châu đưa đến ba quyển sách lớn là “Tây Phương Cổ Lão Đích Dự Ngôn”. Tôi dùng thời gian hai tuần để đọc. Đọc xong, tôi mới thật sự hiểu rõ. Ngày trước chúng ta cũng có xem qua một số quyển, nhưng là tiết lục ra không hoàn chỉnh nên không rõ, cũng là do tự mình tu dưỡng không đủ. Bây giờ nhìn thấy nguyên văn, nhìn thấy toàn bản, chúng ta mới hiểu được. Toàn thế giới đều biết, Đan Mã Tư là nhà dự ngôn nổi tiếng phương Tây. Con người này thực tế mà nói cùng Khổng tiên sinh trong Liễu Phàm Tứ Huấn là nhân vật giống nhau. Ông đối với thay đổi của xã hội tương lai, tình huống bình loạn tính ra rất chính xác, nhưng không có biện pháp hóa giải. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn, Khổng tiên sinh tính được rất chuẩn xác vận mạng của Viên Liễu Phàm nhưng cũng không có biện pháp sửa đổi. Viên Liễu Phàm rất may mắn gặp được Vân Cốc Thiền Sư dạy cho ông, mạng là tự mình tạo, đương nhiên tự mình có thể sửa. Cải tạo vận mạng, ông đã sửa thành công. Ở các triều đại của Trung Quốc, người giống như Liễu Phàm tiên sinh nhiều không thể đếm xuể. Bạn hiểu được đạo lý, hiểu được phương pháp, thì bạn liền có thể cải tạo vận mệnh, sáng tạo vận mệnh, tiền đồ của bạn là một mảng sáng lạn. Hiểu được đạo lý này là khó, không phải là một việc dễ dàng, thấu triệt hiểu rõ phương pháp cũng không phải là dễ. Cho nên, chúng ta nhất định phải chăm chỉ học tập đạo lý này cho thật sâu sắc.
Chúng ta ở Singapore có cơ hội, có thời gian dài giảng đại kinh, những đạo lý này đều có thể nói rõ cùng các vị. Thế nhưng nghe một lần, hai lần, ba lần, bạn thật sự có thể hiểu rõ hay không? Điều này chưa hẳn. Một lần, hai lần, ba lần là chỉ nghe nói mà thôi, tín tâm của bạn đều không thể kiến lập, huống hồ liễu giải. May mà phân lượng của bộ kinh Hoa Nghiêm lớn, trước mắt với tiến độ này của chúng ta, tôi dự tính phải giảng đến mười lăm năm. Nếu như có duyên phận này, trong 15 năm huân tập, tôi tin người khai ngộ sẽ rất nhiều. Không có thời gian dài đến như vậy thì làm không được. Không thể trực tiếp ở hiện trường nghe kinh thì bất đắc dĩ phải cầu lần sau. Bạn nghe băng đĩa, xem VCD, hoặc là từ trên mạng mà mở xem, đây là bất đắc dĩ mà cầu kỳ thứ. Nếu như mỗi ngày huân tập không gián đoạn để xây dựng tín tâm cũng cần phải có thời gian từ ba đến năm năm bạn mới có thể làm được. Người đời nay so với người xưa không giống nhau. Người xưa tâm họ định, rất thành thật. Tâm người thời nay bao chao, nông nổi, nếu không có thời gian từ ba đến năm năm thì không thể xây dựng tín tâm, thậm chí có người phải mất tám năm, mười năm mới thật sự có thể khai giải, thật sự có thể khế nhập. Chính tôi là một thí dụ rất tốt. Ngay trong một đời của tôi, tâm địa bình lặng, điểm này so với người khác thì tôi mạnh hơn được một chút. Tôi không có dục vọng, với người vô tranh, với đời vô cầu nên tâm địa tương đối bình lặng. Điều này đối với sự tu học có sự trợ giúp rất lớn. Nếu như tâm bạn không bình, tâm địa bạn nông nổi, dục vọng rất nhiều, muốn tranh lấy danh văn lợi dưỡng, tham muốn năm dục sáu trần, đây là chướng ngại lớn nhất của sự tu hành. Những thứ này tạo tội nghiệp, nên công phu của bạn không có lực, đạo lý ở ngay chỗ này.
Một người tu hành, một người được phước; một nhà tu hành, một nhà được phước; một khu vực tu hành, thì khu vực đó tránh khỏi được tất cả tai nạn. Singapore không lớn, chúng ta ở nơi này giảng kinh trước sau cũng đã mười hai năm rồi. Vì sao các nơi khác cũng dùng mười mấy năm, thời gian giống nhau mà không có hiệu quả? Nơi này chúng ta xem thấy có một ít hiệu quả, nguyên nhân là giáo dục của Singapore không giống giáo dục của những nơi khác. Con người nơi đây thành thật, giữ phép tắc, rất quy củ. Sau khi nghe Phật pháp rồi, họ chăm chỉ suy nghĩ, họ biết đi làm, họ cảm thấy đây là việc tốt nên chăm chỉ làm. Khi nhiều người cùng làm thì liền hình thành một tập tục. Một quốc gia nhỏ như vậy mà có thể nhận được sự tôn kính của người khắp thế giới, tự nhiên có đạo lý của nó, có thể thấy được đạo lý vẫn phải quy kết ở giáo dục.
Tôi nghe người khác nói với tôi, Lý Quang Diệu tiên sinh đã từng nhận qua giáo dục Anh ngữ, nếu như ông nhận qua giáo dục Hoa ngữ thì quản lý của Singapore so với bây giờ phải tốt hơn gấp mấy lần. Đây là trí huệ chân thật, là người tái lai, không phải phàm phu.
Giáo dục Hoa ngữ dạy người điều gì, chúng ta nên hiểu rõ. Trung Quốc từ Hạ, Thương, Châu ba đời, mãi đến cuối đời nhà Thanh, tông chỉ giáo dục không hề cải biến. Tông chỉ là ba việc:
- Thứ nhất, dạy bạn hiểu rõ quan hệ giữa người và người, bạn phải nên làm người như thế nào.
- Thứ hai, dạy bạn quan hệ giữa con người với hoàn cảnh tự nhiên.
- Thứ ba, dạy bạn hiểu rõ quan hệ giữa con người và thiên địa quỷ thần.
Bạn có thể thông đạt tường tận thì bạn chính là thánh nhân. Giáo dục của nhà Phật cũng là ba sự việc này. Nhà Phật cho dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, cho dù là tông phái nào, tông chỉ của giáo dục cũng là ba điều.
- Điều thứ nhất là chuyển ác làm thiện, trong ngũ thừa Phật pháp là nhân thiên thừa, bạn không thể đọa vào ba đường ác.
- Điều thứ hai là chuyển mê thành ngộ, bạn liền có thể siêu việt sáu cõi luân hồi, siêu việt ngoài ba cõi, làm A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật (Phật ở trong thập pháp giới).
- Điều thứ ba là chuyển phàm thành Thánh, đó chính là siêu việt mười pháp giới, trên kinh Hoa Nghiêm đã nói là Pháp Thân Đại Sĩ.
Nếu chúng ta không nắm được cương lĩnh đối với giáo dục, bạn học là học những gì? Bạn thật sự minh bạch, thật sự hiểu rõ, thì mới biết được tri ân báo ân. Người thế gian họ không biết được ân, họ báo cái ân gì? Tri ân báo ân, ở trong Đại thừa Phật pháp là khóa trình mà nhị địa Bồ Tát cần phải tu, các vị thử nghĩ xem, địa vị này cao bao nhiêu? Hàng nhị địa Bồ Tát tu học tổng cộng có tám khoa mục, đây là một trong số đó. Mỗi niệm không quên “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”, hai câu này là căn bản. Sau đó, từ chỗ này phát dương quang đại, hiếu thuận tất cả chúng sanh, phụng sự tất cả chúng sanh. Kinh Phạm Võng là Giới kinh, trong kinh đã nói: “Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta”. Đây là đem tâm báo ân phát huy đến cực điểm. Chúng ta ngày nay tiếp xúc với rất nhiều tôn giáo khác nhau, tiếp xúc với rất nhiều chủng tộc khác nhau, dùng lòng thương yêu chân thành vô điều kiện, vô tư bố thí cúng dường. Có rất nhiều người cảm thấy rất kỳ lạ, họ đến hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Vì sao Ngài phải làm như vậy?”. Tôi nói: “Đây là chúng ta thực hiện lời dạy bảo của Phật trong kinh Hoa Nghiêm. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, biết được hư không pháp giới tất cả chúng sanh chính là pháp thân thanh tịnh của chính mình, vậy thì làm sao có thể không ái hộ, làm sao có thể không chiếu cố, làm sao có thể không cúng dường?”. Nếu mọi người đều hiểu rõ được đạo lý, đều biết cách làm như vậy thì thiên tai nhân họa sẽ không còn nữa. Đây chính là Phật pháp, thế gian có mấy người thật sự hiểu được?
Chúng ta đã học được những lời dạy bảo này, nhất định phải đem nó biến thành đời sống, biến thành tư tưởng, biến thành hành vi của chúng ta, thì chúng ta mới có thể đạt được thọ dụng chân thật. Cho nên, Cảm Ứng Thiên không thể không chăm chỉ nỗ lực tu học. “Hội biên” những cố sự nhân duyên công án thâu tập được rất là phong phú, chúng ta không thể giới thiệu từng việc, vì như vậy thời gian sẽ rất dài. Tôi ở chỗ này nhắc nhở các vị đồng tu, phải chăm chỉ nỗ lực đọc tụng, thọ trì, tự cầu đa phước.
Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây thôi.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 02)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương