Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Biết Sống Trong Vô Thường - Phần 3


"Do chúng ta chấp thân này là thật, nên mới thấy nó cao quý, lâu dài, cố bám víu, đắm say, đam mê, tham lam, giành giựt vì nó. Bởi chúng ta si mê, chấp thân này là thường, tưởng nó là thật, nên mình sanh lòng tham lam, giành lấy mọi thứ về cho riêng mình, mà hễ tham được thì càng thêm tham, tham không được thì sanh ra oán ghét, hận thù, chờ cơ hội trả đũa..."



 Đạt Ma Thích Phổ Giác

HOÀN CẢNH VÔ THƯỜNG
    Đức Phật dạy, “mọi hiện tượng, sự vật đều tương quan mật thiết, nương nhờ lẫn nhau, cho nên, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt. Tất cả các pháp có hình tướng trên thế gian này đều do nhân duyên sanh, nên hoàn cảnh sự vật cũng đều đổi thay vô thường.
    Lớn như quả địa cầu chúng ta đang sống, dù nó có trụ hàng tỉ tỉ năm, nhưng đến một lúc nào đó, nó cũng sẽ hoại diệt, nên Phật nói, “thành-trụ-hoại-không” là vậy.
    Kính thưa quý vị, hoàn cảnh, tức là những sự vật có mặt trong bầu vũ trụ bao la này như trời, đất, trăng, sao, đủ các thứ thiên hình, vạn trạng, cho đến vật nhỏ nhất như hạt cát, hạt bụi, cũng đều bị sự vô thường chi phối, đổi thay.
    Mới xưa kia là lầu cát nguy nga, tráng lệ, mà nay là biển cả mênh mông, xưa là rừng hoang vắng vẻ, nay thì phố xá, chợ búa đông đúc; đó là lẽ đương nhiên thường tình của thế gian. Do hoàn cảnh, sự vật luôn thay đổi, biến dạng, tuỳ theo nhân duyên thuận nghịch, không có gì là cố định, nên nói hoàn cảnh chúng ta đang sống là vô thường.
     Ai cũng biết, con người phải chịu sự chi phối của sinh-già-bệnh-chết, nên gọi là vô thường; còn các vật thể lớn như trời, đất, trăng, sao có chịu sự chi phối của luật vô thường hay không?
     Trong Kinh Kim Cang nói, “phàm cái gì có hình tướng đều hư hoại”. Chính núi sông cũng có lớn, có nhỏ, khi lỡ, khi bồi, rồi thời gian, khí hậu bốn mùa thay đổi, sớm nắng, chiều mưa; mùa nắng thì cây cối ủ rủ, cằn cỗi, héo tàn; mùa mưa thì cây cối xanh tươi, nẩy nở; và thời gian cứ như thế trôi qua nhanh chóng, trên thế gian này không có một thứ gì là cố định; nhưng chúng ta cứ mãi chấp chặt vào đó, cho rằng cái gì cũng thường còn vĩnh viễn, để khi mất mát thì sanh tâm tiếc nuối, khổ đau.
    Tóm lại, chúng ta học đạo lý vô thường để không sanh tâm cống cao, ngã mạn lúc thành công, không bi quan, chán nản khi thất bại, mà biết nhìn nhận đúng lẽ thật cuộc đời để mình sống tốt hơn. Thân của chúng ta cũng phải già-bệnh-chết, mình cũng đâu thể cưỡng lại được, vì bản chất của nó là không thật có, nên gọi là vô thường; còn cái gì thường thì trước sau như một, nguyên vẹn, không bao giờ thay đổi.
    Do chúng ta chấp thân này là thật, nên mới thấy nó cao quý, lâu dài, cố bám víu, đắm say, đam mê, tham lam, giành giựt vì nó. Bởi chúng ta si mê, chấp thân này là thường, tưởng nó là thật, nên mình sanh lòng tham lam, giành lấy mọi thứ về cho riêng mình, mà hễ tham được thì càng thêm tham, tham không được thì sanh ra oán ghét, hận thù, chờ cơ hội trả đũa.
    Trên cõi đời này, người nào nhận rõ được thân này là vô thường thì ít sanh lòng tham lam, ích kỷ, cho đến khi già-bệnh-chết không lo lắng, sợ hãi, không luyến tiếc một thứ gì. Do đó, khi sống người ấy được bình yên, hạnh phúc, đến khi chết vẫn bình thản, an nhiên, tự tại ra đi.
    Đức Phật chỉ dạy đạo lý vô thường để giúp chúng ta ý thức được cái gì có hình tướng đều hư hoại mà cố gắng tu hành, vượt qua nỗi khổ, niềm đau, biết gầy dựng cuộc sống tốt đẹp ngay tại đây và bây giờ; và cũng nhờ vô thường nên con người cho đến các loài vật mới đổi thay và phát triển sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại.

ÔNG GIÀ VÔ THƯỜNG
     Có một ông già nọ tuổi đã già, nhưng hàng ngày vẫn phải làm lụng vất vả để nuôi thân. Một hôm, sau khi vào rừng đốn củi mang về, vì đường sá xa xôi, lại phải vác nặng, nên ông cụ kiệt sức giữa đường. Ông đặt bó củi xuống đất rồi ngồi than thở một mình, “khổ cho thân già tui quá trời! Đến từng tuổi này mà còn gian nan, vất vả quá chừng! Giá mà bây giờ thần chết đến rước mình đi thì hay biết mấy! Mình muốn bỏ quách cái thân già khốn khổ này đi cho rồi”.
    Ông nói vừa dứt lời, vị thần chết xuất hiện ngay, “ta là thần chết đây, ông lão cần gì, ta sẽ giúp cho ông được toại nguyện?” Ông già nghe nói vậy, sợ quá, run lên cằm cặp nói, “dạ, kính lạy thần chết! Xin ngài nhấc hộ dùm bó củi lên vai để lão vác về kẻo trời tối”.
    Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy con người khi khổ quá thì muốn chết, doạ chết, đòi chết, trối chết, nhưng đến khi cái chết đến gần thì sợ hãi, không muốn chết. Ông già tiều phu kia cũng vậy, lúc thấy mình quá khổ, phát sinh ý chết quách để hết khổ, thân xác khỏi phải nhọc nhằn, nhưng khi thần chết hiện ra thì ông hoảng hồn, sợ chết, muốn đặt gánh củi lên vai và cảm thấy việc gánh củi về nhà là điều hạnh phúc nhất.

SỐNG CÓ ÍCH VÌ BIẾT VÔ THƯỜNG
    Đức Phật dạy chúng ta hiểu được lý vô thường, mục đích là để ta biết sống có bổn phận và dám chịu trách nhiệm về mọi hành vi tạo tác của mình đối với gia đình, xã hội, không bi quan, không yếm thế, không chán nản, không buồn lo trước cuộc sống tạm bợ, mong manh này.
    Cũng bởi kiếp người vốn vô thường, ngắn ngủi, mong manh, nên trong Khế Kinh có kể rằng: Có một người chuyên làm việc ác, khi chết bị quỷ sứ bắt vong hồn dẫn đến trình vua Diêm Vương. Vua hỏi, “ở trần gian, sao ngươi không làm việc thiện mà hay làm việc ác như vậy, để bây giờ bị đoạ xuống đây chịu hành hình?” Vong hồn ấy trả lời, “thưa Diêm chúa, ở trần gian chúng tôi, nhà nước muốn làm việc gì còn phải thông báo trước, tại sao ở Âm phủ, Ngài bắt người chết đột ngột thế này, thử hỏi làm sao tôi làm việc thiện cho kịp được?” “ngươi ở trần gian có thường thấy người già, người bệnh, người chết hay không?” “Dạ thưa có.” “Đó là những thông điệp mà ta đã báo trước cho người trần gian biết rồi đấy, ngươi có thấy trên đời này có ai không phải già-bệnh-chết không?” “Dạ thưa không.” “Vậy tại sao ngươi không lo tu tập, lo làm việc thiện, để bây giờ bị giải xuống đây rồi ngươi lại cãi chày, cãi cối với ta?”
    Lúc bấy giờ, một vong hồn trẻ tuổi ngồi bên cạnh liền lên tiếng phản đối Diêm Vương, “dạ thưa Ngài, tôi không chịu đâu, Ngài thật là không công bằng chút nào; đối với ông già kia, Ngài đã gửi nhiều thông điệp cho ông ta, còn tôi Ngài chưa hề gửi cho một thông điệp nào mà bắt tôi xuống đây, thật oan uổng cho tôi quá chừng!” Diêm chúa nghe vong hồn trẻ khiếu nại, liền cười, “tại nhà ngươi không chịu mở mắt to ra mà thấy, chứ ta làm việc rất công bằng, không bao giờ có chuyện thương người này, mà ghét bỏ người kia. Ta lúc nào cũng có gửi tin báo trước cho mọi người hay biết, tại nhà ngươi không chịu để ý đó thôi.” “Ngài gửi thông báo lúc nào, sao tôi không thấy?”     Diêm chúa mới cười nói, “nhà ngươi có thấy đứa bé ở nhà đối diện với ngươi hay không? Nó mới năm tuổi mà bị chết vì tai nạn giao thông đó! Còn ngươi lớn tuổi hơn nó lẽ nào lại không chết. Ta lúc nào cũng công bằng liêm chính, chí công vô tư, tại ngươi không chịu để ý, hoặc ngươi thấy mà vẫn làm càn, làm bướng đó thôi”.

Đạo Phật dạy, mạng sống con người vốn vô thường, ngắn ngủi, giống như ngọn đèn treo trước gió, có thể bị tắt đi bất cứ lúc nào. Thân người cũng vậy, không phải ai cũng chờ đến già, bệnh mới chết, mà mạng sống kết thúc bất cứ lúc nào với muôn ngàn lý do, vì vậy mà có câu:

Chớ bảo đến già mới tu tập
Mồ hoang cũng lắm kẻ đầu xanh

      Hiểu được lý do vô thường của vạn vật để mỗi người chúng ta cố gắng học hỏi và tu tập, đem tình yêu thương san sẻ với muôn loài bằng trái tim hiểu biết. Chúng ta đừng quá say mê, tham đắm vào xác thân này mà làm khổ luỵ cho nhau. Câu chuyện trên cho ta một bài học đạo lý về mạng sống con người vốn vô thường, tạm bợ. Quý vị nên nhớ rằng, sau khi chết không phải là hết hay mất hẳn, mà chết chỉ là hình thức thay hình, đổi dạng mà thôi, rồi tuỳ theo nghiệp báo tốt, xấu của mỗi người đã gieo tạo trong hiện tại, mà cho ra kết quả trong tương lai.
    Thế gian này không có gì là mất hẳn dù là hạt bụi, hạt cát, chúng chỉ thay hình đổi dạng. Hiểu được lý vô thường để mọi người chúng ta sống có ý nghĩa hơn, làm được nhiều điều thiện lành, tốt đẹp, luôn sống có ích cho mình và người trong hiện tại và mai sau.
    Ai sống được như vậy, đến khi thần chết hiện đến, ta không sợ hãi, hốt hoảng, mà bình thản ra đi với một hành trang tốt đẹp; còn những thứ của thế gian như tiền tài, vàng bạc, nhà cửa, mình đều bỏ lại, không mang theo được món nào, lúc ấy chỉ có nghiệp báo tốt, xấu do ta tạo dựng lúc còn sống sẽ theo mình suốt đời mà thôi. Biết được như vậy, lúc lâm chung ta sẽ an lòng ra đi, không tiếc nuối bất cứ một thứ gì của thế gian, kể cả sự sống.

(còn tiếp)

Vu Lan Nhớ Mẹ



"Con nhớ hoài hình ảnh trời mưa, mưa thật lớn, Mẹ đón con, rồi hai mẹ con cùng trú mưa ăn bánh bèo, con nhoẻn cười với Mẹ, Mẹ nhìn con, tình thương tràn đầy, ước mong sao con có một cuộc đời tươi đẹp, công thành danh toại..."





Nhiều đêm… nghe tiếng gọi của Mẹ, sáng nay con đã thu xếp để trở về quê nhà, một sự xúc cảm lan dài trong con; chỉ còn có 16 tiếng nữa thôi là con đã có mặt ở bên Mẹ… Con trở về đầu xóm nghèo nơi Ba Mẹ đã nuôi con cho đến ngày khôn lớn. Một đàn em nhỏ trong xóm chạy ra và bu quanh con; con chia cho các em nhỏ những quả táo, một két táo vỏn vẹn mà con mang theo. Nhìn xa xa, con thấy lối xóm bu quanh căn nhà nhỏ của mình, linh cảm như có điều gì không hay xảy đến, con chạy nhanh và rẽ vào đám đông bước vào căn nhà, 2 chiếc quan tài của Ba Mẹ nằm đó, con đứng sững! Tim con tan nát thành những mảnh vỡ, cùng lúc đó, con lại nghe tiếng réo gọi của các con con „Mẹ ơi, con nhớ Mẹ! Chừng nào Mẹ về với con?“. Con như ngây dại, thẫn thờ rồi con chạy ra phi trường… chiều xuống ảm đạm… và con giật mình, tỉnh dậy, thì ra đó chỉ là một giấc mơ… Con nghe lòng thổn thức và rồi con chợt nhớ lại lời trong kinh Phật: "Trong lục đạo luân hồi, sữa Mẹ mà các Thầy thọ nhận còn nhiều hơn nước biển trong Đại Dương".

Hôm nay nhân ngày Vu Lan, con xin được đọc lên bài thơ về mẹ, như một món quà để dâng lên Mẹ, lên tất cả những người làm Mẹ:

Trước tượng Phật ngàn mắt ngàn tay

Mái Tam Quan vang dội tiếng chuông chiều

Mẹ lên chùa dâng hương ngày hội

Nhành mẫu đơn ai vừa đánh gẫy

Tượng Phật bà ngàn mắt ngàn tay

Áo dài nâu thắt vạt, đổi vai

Tay mẹ chắp như đài hoa ngọc bút

Nghìn tay Phật ngọc ngà óng chuốt

Tỏa như vầng ánh nắng mặt trời

Trên đài sen ngàn mắt sáng ngời

Đều tụ lại trong ánh nhìn của Mẹ

Mẹ và Phật bên nhau lặng lẽ

Những bàn tay nói với bàn tay

Phải, nghìn tay này là của Mẹ đây

Tay cấy lúa lên những mùa xanh biếc

Tay bồng con ru lời tha thiết

Con lớn lên trong êm ấm bàn tay

Nghìn tay này là của Mẹ đây

Công việc một đời, Mẹ làm xong tất cả

Những ngón đẹp như bút cây thon nhỏ

Một đời dầm trong đất, một đời

Phép nhiệm màu từ đấy Mẹ ơi!

Tay Phật tụ theo hình tay Mẹ

Mẹ và Phật bên nhau lặng lẽ

Những bàn tay nắm lấy bàn tay
(Nguyễn Phan Hách)

Mẹ ơi! Mẹ có biết những giấc mơ về Mẹ, về những ngày còn ở quê nhà đã mang theo con suốt đời, có những giấc mơ cứ lặp đi lặp lại trong con: con thấy gia đình mình chạy loạn, nhà cháy, cháy lớn lắm vì loạn lạc, con chạy theo đám đông và rồi con chợt nhận ra Mẹ không có bên con. Con chạy ngược trở lại về xóm nhà, lửa bốc cao ngùn ngụt, con khóc và rồi con thấy Mẹ, Mẹ đã quay lại căn nhà để lấy theo những vật cần thiết cho các con của Mẹ mà quên cả hiểm nguy. Run rẩy con ôm Mẹ và gục vào lòng Mẹ, con òa khóc! Mẹ của con đó, suốt đời chịu cực nhọc hy sinh vì chồng, vì con mà không quản thân gầy yếu của mình…

Mẹ ơi! Con yêu Mẹ, vì Mẹ là Mẹ của con, chỉ đơn giản vậy thôi và con tìm thấy trong Mẹ hình ảnh Đức Phật Quán Âm như bài thơ trên con vừa đọc.

Cứ mỗi lần Vu Lan về hay ngày giỗ Mẹ, con thường đọc kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân trong đó Đức Phật đã nêu ra 10 công đức sâu dày của người mẹ:

1)    Chín tháng cưu mang khó nhọc

2)    Sợ hãi đau đớn khi sanh

3)    Nuôi con cam đành cực khổ

4)    Nuốt cay, mớm ngọt cho con

5)    Chịu ướt, nhường ráo con nằm

6)    Nhai cơm sú mớm cho con

7)    Vui giặt đồ dơ cho con

8)    Thương nhớ khi con xa nhà

9)    Có thể tạo tội vì con

10)  Nhịn đói cho con được no

là con khóc. Giờ con cũng đã là mẹ, mẹ của các con con, các cháu ngoại của Mẹ nên con đã cảm nhận được những lời Đức Phật dạy, mà ngày xưa còn bé theo Mẹ lên chùa cứ mỗi lần tụng kinh là con buồn, con sợ mất Mẹ. Khi đó con chưa hiểu, chưa cảm nhận được lời Phật dạy, chưa thấu hiểu được những nhọc nhằn, chịu đựng mà Mẹ đã cho chúng con, con chỉ biết một điều duy nhất là con muốn được sống hoài cùng Mẹ, cùng Ba. Hằng đêm nhìn lên bầu trời đầy sao, con khấn nguyện Mười Phương Chư Phật cho Ba Mẹ sống với con đến 100 tuổi. Tuổi nhỏ con nào biết 100 tuổi rồi cũng qua như một giấc mơ...

Mẹ kính thương! Ngày xưa Mẹ sanh con biết bao điều lo lắng, và khổ cực chứ không như con bây giờ ở giữa xã hội này, có điều khi con sanh con, con không thấy sợ hãi, mà con chỉ thấy nỗi vui mừng, cảm động. Con cảm nhận được đây là nguồn sống, là sự an ủi cho con.
Cô mụ để con con nằm áp vào lồng ngực của con, hai dòng nước mắt của con tuôn chảy, lời ru và gương mặt dịu hiền của Mẹ lại hiện ra trong con:
 "À… ơi… ! À… ời !

Con tôi buồn ngủ buồn nghê

Buồn ăn cơm nếp ơ ...cháo khê thịt gà"

Con nhớ tới công ơn Mẹ đã nuôi dưỡng sanh thành ra con, nhè nhẹ con xoa lên tấm lưng mỏng manh, nhỏ bé của cháu ngoại Mẹ. Bàn tay Mẹ ngày nào đó xoa lưng cho con trong những buổi trưa hè nắng gắt, ru con ngủ, giờ tay con tiếp nối tay Mẹ, truyền hơi ấm tình thương của Mẹ cho con con... Mẹ có con, con có Mẹ, Mẹ ơi!. Cuộn phim ngày nhỏ diễn ra trước mặt, Mẹ cầm tay con, dắt và đón đưa con những ngày con mới cắp sách đến trường… Con nhớ hoài hình ảnh trời mưa, mưa thật lớn, Mẹ đón con, rồi hai mẹ con cùng trú mưa ăn bánh bèo, con nhoẻn cười với Mẹ, Mẹ nhìn con, tình thương tràn đầy, ước mong sao con có một cuộc đời tươi đẹp, công thành danh toại...

 Ngày xưa chắc Mẹ cũng vui mừng như con phải không Mẹ? Mẹ ơi! Cháu của Mẹ, dòng máu của Mẹ đang tiếp nối... Hạt giống của lòng yêu thương, của sự chất phác từ nơi Mẹ. Con mong ước một điều các cháu của Mẹ có một tấm lòng nhân ái, biết chia sẻ những khổ đau của một kiếp con người, biết dâng niềm vui cho sự sống, Mẹ ơi! Và con tin chắc hạt giống lành sẽ nối tiếp mãi từ nơi Mẹ...

Con còn nhớ năm 1982, thời gian đó Quê Hương mình quá nghèo khổ, người dân đói ăn, khát uống, thuốc men thiếu thốn mà Mẹ lại bị xuất huyết bao tử rất nặng. Mẹ nằm nhà thương Saint Paul và bị tiếp nhầm máu. Con cung thỉnh quí Thầy về nhà cúng trai Tăng cầu cho Mẹ hết bệnh. Nhiệm màu thay, có một vị bác sĩ lo cho Mẹ cấp tốc qua bệnh viện Bình Dân để thay máu, giúp Mẹ khỏe lại với chúng con. Ân của quí Thầy, của vị bác sĩ đó con suốt đời không bao giờ quên. Hằng đêm con thường khấn nguyện trước Ngôi Tam Bảo:
- Con nguyện dứt bỏ các điều xấu ác
- Con nguyện đời đời kiếp kiếp tu hạnh lành, và làm tất cả việc lành
- Con nguyện đời đời kiếp kiếp khi thấy những ai khổ đau, lâm nạn, con xin đem hết khả năng của mình mà giúp đỡ cho họ.

Mẹ ơi! Giờ này mùa Vu Lan nơi xứ lạ quê người, con lại nhớ về Mẹ. Với con mỗi ngày, mỗi phút đều là Vu Lan. Mẹ nghe con hát cho những người con thiếu hình bóng mẹ trong cuộc đời nha Mẹ:

"Hôm nay thu về, nghe lòng bâng khuâng tái tê, chân vương lá vàng chìm sâu trăng Vu Lan về. Mẹ hiền ơi! Hoa hồng đã úa tàn rồi. Màu hoa xinh tươi nhất đời, con tìm hình bóng nơi đâu? Lạc loài đây chỉ còn màu hoa trắng này, suốt đời trên thân áo con. Nhìn màu hoa nghe lòng nhung nhớ ngập tràn, tuổi vui trôi xuôi về ngàn, Mẹ ơi suốt đời lìa tan.
Thu nay con về, giữa mùa Vu Lan nắng vui, bâng khuâng giữa ngàn cành hoa tươi xinh nhất đời. Chiều dần trôi âm thầm xa xót nhiều rồi, ngày xưa yêu thương mất rồi bây giờ tìm kiếm nơi đâu. Và chiều nay con về tìm đâu dáng Mẹ, nhắc thầm niềm xa xót về nghe mùa thu chết đâu đây. Từng hồi chuông ngân dài đêm vắng bàng hoàng. Lòng con xót xa ngập tràn, hoàng hôn lắng sâu chìm tan…"

Mẹ ơi! Hình ảnh Vu Lan nơi quê nhà lại hiện về với con sau mùa Tự Tứ. Mọi người đều vui mừng trong ngày thắng hội, con nghe như tiếng vui cười từ các ngục được mở, tất cả đều thánh thiện, đều hiền hòa, các loài quỉ đói đều được ấm no. Tất cả đều an bình, không còn chiến tranh và thù hận....

Con xin được dâng lòng thành kính lên Thân Mẫu Đức Mục Kiền Liên.
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát tác đại chứng minh

Mùa Vu Lan 2013  - Diệu Tâm

Tranh Cát Mùa Vu Lan Báo Hiếu của Phong Giao

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Vu Lan - Ngày Trở Về Bên Mẹ - Phần 2


"Mong lắm thay, những người con đất Việt dẫu đang phải bôn ba trên khắp dải hành tinh này, dù trăm công, ngàn việc, dù cuộc sống còn bao khốn khó, gian lao… nhưng phận làm con - đừng bao giờ quên lãng! Được vậy, khoảng cách giữa chúng ta và Mẹ nào mấy cách xa?..."






14:00 giờ – Đại lễ Vu Lan và Lễ Bông Hồng Cài Áo
Đây là nghi thức quan trọng và uy nghiêm nhất trong Đại Lễ Vu Lan. Mặc dù trời tuôn mưa xối xả, nhưng vẫn không cản được bước chân của các Phật tử muôn phương hướng về nơi Đại Hùng Bảo Điện. Hòa lẫn tiếng trống Bát Nhã trầm hùng vang lên, các Phật tử đã cùng nhau cất vang lời bài hát: Kính Mến Thầy để cung đón phái đoàn chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni vào Đại Hùng Bảo Điện khai Lễ Vu Lan 2557.
Sau phần Khai lễ, Phật tử Huệ Phú đã thay mặt BTC, cung kính giới thiệu sự hiện diện của phái đoàn các Chư Tăng đến từ các nước và khắp nơi trên nước Đức. 

Các Phật tử cùng ca vang bài Kính Mến Thầy để
cung nghinh phái đoàn Chư Tăng vào Đại Hùng Bảo Điện 

Danh sách Chư Tăng tham dự lễ Vu Lan 2013
11)   HT. Thích Quảng Bình
22)   TT.Thích Thiện Sơn
33)   TT .Thích Minh Phú
44)   TT. Thích Từ Trí
55)   ĐĐ Thích Chúc Toàn
66)   ĐĐ Thích Huệ Giác
77)   ĐĐ Thích Nghiêm Tín
88)   ĐĐ Thích  Trung Lưu
99)   ĐĐ  Thích Vạn Trí
110) ĐĐ Jana Nanda
111) ĐĐ Assaji
112) ĐĐ Thích Huệ Hgộ
113) ĐĐ Thích Huệ Chuyển
114) Sư bà Thích nữ Như Tuấn
115) Sư Bà Thích nữ Diệu Ân
116) Ni Sư Thích nữ Diệu Hạnh
117) Ni Sư Thích nữ Như Quang
118) Sư Cô Thích nữ Như Huệ
119) Sư Cô Thích nữ Huệ Liên
220) Sư cô Thích Nữ Thiền Châu
221) Sư Cô Thích Nữ Diệu Linh
222) Sư Cô Thích Nữ Huệ Thiện
223) Sư cô Thích Nữ Tâm Sơn
224) Sư CôThích Nữ Tịnh Trang
225) Sư Cô Thích Nữ Huệ Triều
226) Sư Cô Thích Nữ Huệ Thơ
227) Sư Cô Thích Nữ Huệ Triều
228) Sư chú Huệ An
229) Sư Chú Huệ Không
230) Sư chú Huệ Nhật
331) Sư chú Trung Đạo
332) Sư chú Huệ Bảo
 

Phật tử Huệ Từ trong niềm xúc cảm dạt dào về Mẹ đã đọc lời chia sẻ cùng các Phật tử về nỗi niềm của mình về hình ảnh của người mẹ hiền, thân thương giờ đã đi xa… Những lời lẽ giản dị, một mạc, đầy xúc cảm và chan chứa nỗi buồn, thương, day dứt… của một người con dành cho mẹ, đối với mẹ – Tuy mẹ không còn nữa, đã tạo nên mối rung cảm, xúc động, bồi hồi và nhớ thương khôn nguôi trong lòng những người con dẫu đang còn, hay mất mẹ, đang có mặt nơi Đại Lễ.
Đây là một dấu ấn mang nhiều lắng đọng để lại cho mỗi người con, cho dù là Bắc-Trung-Nam, cho dù đang đi xa, phải sống xa mẹ, hay đang được ở gần bên mẹ – dấu ấn ấy thật khó phai mờ…

Hoàng hôn xuống, chuông chùa ngân nhè nhẹ
Vu Lan kinh trầm ấm vọng vang trời
Dù mai này đời chia sẻ muôn nơi
Con vẫn nhớ tiếng ru hời của mẹ...

Sau lời chia sẻ của Phật tử Huệ Từ, Sư cô Huệ Nghiêm cũng có đôi lời tâm sự về những suy tư, những dằn vặt nội tâm của một người con khi phải sống xa mẹ; khi người mẹ của mình đau yếu, tật bệnh… mà mình không có được cơ hội để chăm dưỡng… để rồi khi người mẹ đi xa… người con lúc ấy mới chợt như bừng tỉnh và hối lỗi về những tháng ngày được bên mẹ, sống bên mẹ nhưng đã không mảy may nghĩ tới chuyện lo tròn đạo hiếu… Sự hồi đầu lúc này phải chăng đã là quá muộn…


 Sư Cô Thích Nữ Huệ Nghiêm tâm sự về
nỗi lòng người con khi phải xa mẹ...

Lễ Bông Hồng Cài Áo cũng được diễn ra hết sức trang nghiêm, ấm cúng và đầy cảm động. Các thiếu nữ – những bông hồng xinh xắn của chùa tay xách lẵng hoa, miệng nở những nụ cười tinh khôi, cung kính trao những đóa hoa hồng tới các Chư Tăng, và các Phật tử, đặc biệt là những người mẹ - những người con đang nhớ về người mẹ kính yêu của mình…

 
 

 
 Lễ Bông Hồng Cài Áo...


15:30 giờ – Thuyết pháp
Với lời pháp một mạc, chân thành và dí dỏm, Thượng Tọa Thích Minh Phú đã có một bài Pháp nhỏ dành cho các Phật tử. Những câu chuyện đời-đạo đan xen đã được TT Thích Minh Phú khéo léo dẫn dắt và giảng giải, giúp cho các Phật tử có được những giây phút sâu lắng để tự suy nghĩ, nhìn nhận lại vai trò, trách nhiệm và cuộc sống của cá nhân cũng như đối với gia đình, đặc biệt là đối với tâm đạo của người Phật tử.

17:30 giờ – Cúng Cô Hồn
Một nghi lễ không thể thiếu trong Đại Lễ Vu Lan. Đây là một nghi Lễ để bày tỏ tâm lòng của người còn sống đối với các vong hồn đã qua đời nhưng chưa được siêu thoát. Cúng Cô Hồn cũng là một nghi thức giúp cho các cô hồn có được cơ duyên trở về nghe kinh thính pháp, từ đó mà giác ngộ để được siêu thoát hay sanh về cõi lành…

19:30 giờ – Đêm Văn Nghệ Mừng Đại lễ Vu Lan và Nối Vòng Tay Lớn
Văn Nghệ trong các dịp Đại lễ đã trở thành một nét văn hóa gắn kết trong các sinh hoạt Phật sự do chùa Phật Huệ tổ chức. Đây là cơ hội để kết duyên và gieo duyên Phật pháp tới muôn người…

Trong buổi văn nghệ mừng Vu Lan lần này, trước lời kêu gọi của TT Thích Thiện Sơn – Người đứng đầu cho Dự án Chance to Grow e.V nhận trợ dưỡng Cô nhi viện Ưu Đàm, thành phố Huế, các Phật tử đã hoan hỉ chung tay, quyên góp từ thiện được một khoản tiền là 3.984,71 Euro. Số tiền này sẽ được Hội gửi về giúp cho 50 trẻ em cô nhi đang sinh sống tại Cô nhi Viện Ưu Đàm, thành phố Huế…

Đêm Văn Nghệ mừng Đại Lễ Vu Lan với sự tham diễn của các ca sĩ mến mộ tại hải ngoại: Ca sĩ Đan Nguyên, Y Phụng, Nguyễn Hồng Nhung và tốp ca sĩ, diễn viên của Chùa Phật Huệ đã mang lại một không khí tràn đầy ấm cúng, chan chứa tình người và hương vị quê hương. Tiểu phẩm kịch: Mục Kiền Liên Cứu Mẹ do các Chư Tăng và Phật tử của chùa Phật Huệ giàn dựng và phụ diễn đã tạo nên một không gian đầy sâu lắng và thi vị. Hình ảnh bà Thanh Đề, mẹ của Đức Mục Kiền Liên với tính tình kiêu ngạo, ngoa ngoắt, tham lam, bỏn sẻn, lộng ngôn, vô lối… đã tạo nên một bi hài kịch, mang lại những tiếng cười ngỡ như sảng khoái cho khán giả, nhưng ẩn dụ đằng sau những hành vi tưởng như mĩ miều, kiêu sa, vượt trội ấy chính là sự vô minh, coi thiên, nhân, đạo, lý không bằng cây cỏ. Những hành vi vô minh đó chính là Nhân, và cái nghiệp mà bà Thanh Đề phải gánh chịu, đọa đày nơi địa ngục A Tỳ chính là Quả. Đây chính là một thành công của vai diễn Thanh Đề. 

   
 Tiểu phẩm kịch: Mục Kiền Liên Cứu Mẹ do các Chư Tăng
và Phật tử chùa Phật Huệ giàn diễn

Đối nghịch với hình ảnh một bà mẹ ngỗ nghịch, luôn có nguy cơ tạo phản là hình ảnh một người con trai - Đức Mục Kiền Liên nói năng nhỏ nhẹ, gương mặt bi mẫn và rất „đẹp trai“ (lời thoại của bà Thanh Đề), trong tay cầm bảo trượng, xuống dưới địa ngục thăm nom và tìm cách cứu mẹ… đã tạo nên một cảm xúc thật sâu lắng về tấm lòng thơm thảo của một người con, khi đắc đạo, đã không quên hình ảnh người mẹ đang sống khổ đau, bầm dập trong sự hành tra của địa ngục A Tỳ. Hình ảnh Mục Kiền Liên rưng rưng trao bát cơm vào tay mẹ, rồi bà mẹ vội vàng tay che, tay bốc vội bát cơm định bỏ vào miệng thì bát cơm ấy đã vụt bốc cháy thành lửa… là một hình ảnh rất sống động, bởi nó lột tả được tận cùng cái tâm tham, tâm sân hận của bà Thanh Đề – Mẹ Mục Kiền Liên. Nhưng sâu xa hơn hình tượng bát cơm bốc cháy thành bát lửa lớn (cảnh giới của tâm sân) như một lời nhắn nhủ tới tất thảy mọi người: Tâm tham, sân chính là cảnh giới, là con đường dẫn mọi người tới địa ngục A Tỳ và nó sẽ thiêu trụi tất cả những công đức (nhiều khi rất ít ỏi) mà người ta đã, đang, muốn tạo dựng nên. 


ĐĐ Thích Nghiêm Tín trong vai Mục Kiền Liên

Mục Kiền Liên xuống địa ngục A Tỳ xin gặp mẹ



Bà Thanh Đề vui sướng khi được gặp lại con...

Mục Kiền Liên trao bát cơm cho mẹ

Tướng do tâm sanh. Cảnh tuỳ tâm chuyển. Một niệm sân nổi lên  thiêu trụi cả một rừng công đức chính là điều Đức Phật luôn luôn nhắc nhở các đệ tử, và nó cũng chính là lời cảnh báo, nhắc nhở mỗi chúng ta trên bước đường tu học...

 

 Cảnh bà Thanh Đề mẹ Mục Kiền Liên hoảng
hốt khi thấy bát cơm trên tay bốc thành ngọn lửa


 Sân khấu đêm Văn Nghệ đã được khép lại lúc 2 giờ sáng ngày 15.09.2013 và cũng khép lại mùa Vu Lan 2557.

Vu Lan đã qua, nhưng lòng người mãi còn ở lại. Mong lắm thay, những người con đất Việt dẫu đang phải bôn ba trên khắp dải hành tinh này, dù trăm công, ngàn việc, dù cuộc sống còn bao khốn khó, gian lao… nhưng phận làm con - đừng bao giờ quên lãng!
Được vậy, khoảng cách giữa chúng ta và Mẹ nào mấy cách xa?
Vu Lan – Ngày trở về với Mẹ!
19.09.2013, Vu Lan 2557 – Lược ghi: Thiện Lợi

Màn kết tiểu phẩm Mục Kiền Liên Cứu Mẹ