Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Video Đàn Pháp Dược Sư - Phần 2

"Còn nữa, này ông Mạn Thù Sư Lợi, khi Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đắc đạo Bồ Đề, do sức bản nguyện, mà Ngài soi thấy các loài hữu tình mắc nhiều bịnh khổ, như là những bệnh gầy còm, co quắp, khô héo, sốt vàng, hoặc bị trúng độc, ma mị trùng cổ, hoặc bị chết non, hoặc khi chết uổng. Ngài muốn khiến cho những bịnh khổ ấy, đều được tiêu trừ, và có cầu gì cũng được mãn nguyện, thời Ngài liền vào cảnh Ta Ma Đề gọi là cảnh Định, diệt hết khổ não cho các chúng sinh. Đã vào Định rồi, ở trong nhục kế, phóng đại quang minh, trong đại quang minh diễn nói thần chú Đại Đà La Ni: Nam mô bạt già phạt đế bệ sát xả, lủ rô thích lưu ly bác lặt bà hắc ra xà giả. Đát tha yết đa gia a ra ha đế tam miệu tam bột đà gia đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha. "


Đàn Pháp Dược Sư  - Phần 2



Đàn Pháp Dược Sư  - Phần 3

Đàn Pháp Dược Sư  - Phần cuối

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

Video Đàn Pháp Dược Sư - Phần 1

"Nguyện đời sau này, khi ta đắc đạo Vô Thượng Bồ Đề, nếu những hữu tình mắc mọi bịnh khổ, không ai cứu chữa, không chỗ nương thân, không người thân thiết, không cửa không nhà, bần cùng khốn khổ, môt khi tên ta nghe lọt vào tai mọi bịnh đều hết thân tâm yên vui, gia quyến tiền của, thảy đều phong túc, rồi tu đắc đạo Vô Thượng Bồ Đề. (Nguyện Thứ Bảy - Kinh Dược Sư)..."


Đàn Pháp Dược Sư - Phần 1



 

Đàn Pháp Dược Sư - Phần 2 (đang upload)

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Vì Nhân Duyên Nào Mà Xinh Đẹp Hay Xấu Xí, Cao Quý Hay Bần Tiện?



"Trong thế gian này có số phụ nữ tính tình nóng nảy, tính khí bất thường, dễ dàng nổi cơn thịnh nộ khi có ai xâm phạm đến, dù là việc nhỏ vụn, biểu hiện sự không hài lòng, nóng giận, dữ dằn, gây thù chuốc oán với người khác. Không những thế lại còn không có đức tin vào thiện pháp, không hoan hỷ tạo phước điền, bố thí cơm, nước, hoa quả thuốc men, vật thơm, dầu thoa, các phương tiện, vải vóc, y phục, đèn dầu, chỗ ở, chỗ nằm ngồi... đến chư Sa môn, Bà la môn... Tính tình họ đố kỵ, ganh tỵ đối với những người có của cải tài sản. Đem tâm tỵ hiềm với sự làm phước của người khác..."


Tác giả: Tỳ kheo Thiện Minh
Cách đây hơn 2500 năm về trước, tại nước Ấn Độ trong thành Savathi. Vào một thuở nọ Đức Phật ngự tại Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) - của ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Khi ấy có hoàng hậu Mallik ā đến hầu đảnh lễ Đức Phật và thưa rằng:
1- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà trong thế gian này có một số phụ nữ không những không có hình dáng xinh đẹp, da dẻ khô cằn, ngũ quan không cân đối, không đáng cho phần đông chiêm ngưỡng mà lại còn là người nghèo nàn, không có oai lực danh tiếng, địa vị trong xã hội?
2- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ hình dáng không xinh đẹp, ngũ quan không cân đối xấu xí, không đáng cho phần đông chiêm ngưỡng, tuy thế lại là người giàu sang, tài sản, thọ dụng được nhiều thứ của cải và có oai lực danh tiếng, địa vị trong xã hội?
3- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ dung nhan vô cùng xinh đẹp, hài hòa cân đối và duyên dáng, đáng chiêm ngưỡng thõa thích cho phần đông, tuy nhiên lại là người nghèo khó, không có tài sản, không thọ dụng được của cải, cũng như không có địa vị, danh tiếng trong xã hội?nguoiphattu.com
4- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ hầu như được toàn diện về nhiều mặt, là người có dung nhan vô cùng xinh đẹp, duyên dáng, là nơi thoả thích chiêm ngưỡng cho phần đông, không những vậy mà còn là người giàu sang phú quí, có nhiều tài sản, thọ hưởng được nhiều của cải , có danh tiếng và địa vị cao quý trong xã hội?

Sau khi nghe xong, Đấng Thiên Nhân Sư thuyết giảng rằng:

1a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ tính tình nóng nảy, tính khí bất thường, dễ dàng nổi cơn thịnh nộ khi có ai xâm phạm đến, dù là việc nhỏ vụn, biểu hiện sự không hài lòng, nóng giận, dữ dằn, gây thù chuốc oán với người khác. Không những thế lại còn không có đức tin vào thiện pháp, không hoan hỷ tạo phước điền, bố thí cơm, nước, hoa quả thuốc men, vật thơm, dầu thoa, các phương tiện, vải vóc, y phục, đèn dầu, chỗ ở, chỗ nằm ngồi... đến chư Sa môn, Bà la môn... Tính tình họ đố kỵ, ganh tỵ đối với những người có của cải tài sản. Đem tâm tỵ hiềm với sự làm phước của người khác. Ganh tỵ với những người được lợi lộc; được quần chúng cung kính; mến mộ ... và họ còn làm nhiều việc sai quấy khác.v.v..

Số phụ nữ nầy sau khi chết, nếu do ảnh hưởng một phước lành nào đó trong quá khứ, được tái sanh trở lại làm người thì sẽ là người có hình dáng không xinh đẹp, da dẻ sần sùi, đường nét dung nhan xấu xí, tứ chi, ngũ quan tai mắt không đẹp, không trong sáng, là người không có sự hấp dẫn cho thị hiếu chiêm ngưỡng của phần đông. Không những thế còn là người nghèo khó, khổ cực, không có tài sản, không thọ hưởng được của cải, và có địa vị danh tiếng thấp kém trong xã hội.

2a - Này Mallikā! Trong thế gian này, có số phụ nữ tính tình hung hãn, dữ dằn, dễ dàng nổi cơn thịnh nộ, tuy vậy nhưng lại có đức tin, có tâm tạo phước điền bố thí hoa quả, cơm nước,... đến các Sa môn, Bà la môn. Số phụ nữ ấy không có tâm đố kỵ với những lợi lộc; không ganh tỵ với những người được tán dương khen ngợi, được sự cung kính cúng dường, thương yêu kính mến của những người khác.nguoiphattu.com

Những người phụ nữ này, nếu được tái sanh trở lại làm người, thì thân sắc không xinh đẹp, da dẻ khô cằn, dung mạo xấu xí, không là nơi đáng chiêm ngưỡng thỏa thích của phần đông. Tuy nhiên lại là người giàu sang phú quý có nhiều tài sản và thọ hưởng được của cải, có oai lực, danh tiếng, địa vị cao quý trong xã hội.

3a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ không có nhiều tính sân hận; tâm không có nhiều mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm đến cũng không bất bình, không nổi cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính khí bất thường hay gây hiềm hận với người khác; không có hành động biểu hiện rõ sự bất bình, nóng giận, sự không ưa thích đến người khác. Tuy nhiên người này không có tâm tạo phước điền, hoan hỷ bố thí hoa quả, cơm nước, vật thơm, vật thoa,... đến các hàng Sa môn, Bà la môn... lại có tâm đố kỵ với người nhiều lợi lộc; ganh tỵ với những người được sự tán dương khen ngợi, được sự thương yêu, quý mến, cung kính cúng dường của người khác; đồng thời thể hiện những hành động sai lầm về sự đố kỵ, ganh tỵ ấy.

Số phụ nữ này sau khi chết, nếu như được tái sanh trở lại làm kiếp người thì có dung nhan vô cùng xinh đẹp, hài hòa, cân đối, duyên dáng; là nơi xứng đáng cho thị hiếu chiêm ngưỡng của phần đông. Tuy nhiên lại là người nghèo khó, khổ cực, không có tài sản, không thọ hưởng được của cải cũng như không có oai lực, địa vị cao quý trong xã hội.

4a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ không có nhiều tính sân hận, không có nhiều bực dọc, mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm, cũng không nổi cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính bất thường hay hiềm hận với người khác; không có hành động cư xử thể hiện rõ sự nóng giận, sự bất bình hay sự không vui thích đến người khác. Không những thế mà còn có tâm hoan hỷ làm phước bố thí hoa quả, cơm nước, vật thơm, vật thoa, thuốc men,...đến các hàng Sa môn, Bà la môn... Là người không có tâm đố kỵ với những lợi lộc; không ganh tỵ với những người được sự tán dương, khen ngợi, được sự thương yêu qúy mến, cung kính, cúng dường của người khác.nguoiphattu.com

Những phụ nữ này sau khi chết nếu được tái sanh trở lại loài người thì là người có dung nhan tuyệt sắc, làn da mịn màng tươi mát, đáng là nơi thỏa thích chiêm ngưỡng cho phần đông, còn là người giàu sang nhiều tài sản, thọ hưởng được của cải, có oai lực, danh tiếng và địa vị cao quý trong xã hội.

* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp của số phụ nữ có tính tình nóng nảy, tính khí bất thường, dễ dàng nổi cơn thịnh nộ khi có ai xâm phạm đến, dù là việc nhỏ vụn, biểu hiện sự bất bình, nóng giận, dữ dằn, gây thù chuốc oán với người khác...do đó kiếp hiện tại này cho quả là nhan sắc không xinh đẹp, không đáng cho phần đông thỏa thích chiêm ngưỡng.

* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không từng tạo nhân phước điền, làm phước bố thí cơm nước, hoa quả, thuốc men, vải vóc, y phục, phương tiện chỗ ở... đến Sa môn, Bà la môn từ tiền kiếp mà kiếp hiện tại này cho quả là người nghèo khó, không có tài sản...

* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không có nhiều tính sân hận; tâm không có nhiều mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm đến cũng không bất bình, không nổi cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính khí bất thường hay gây hiềm hận với người khác; không có hành động biểu hiện rõ sự bất bình, nóng giận, sự không ưa thích đến người khác ... từ kiếp quá khứ, mà kiếp hiện tại này cho quả là người nữ có dung nhan xinh đẹp diễm kiều, duyên dáng, làn da tươi mát, mịn màng... đáng là nơi thỏa thích chiêm ngưỡng của phần đông.

* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp thường làm phước bố thí cơm nước, hoa quả, thuốc men, ... đến các sa môn, bà la môn... từ tiền kiếp mà kiếp này cho quả được giàu sang phú quý, nhiều tài sản, thọ hưởng được nhiều của cải...

* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không có lòng đố kỵ; không ganh tỵ đối với những người được nhiều lợi lộc, được sự tán dương, cung kính cúng dường của người khác; cũng như không làm hư hoại lợi lộc, thanh danh của người khác... từ tiền kiếp mà kiếp này cho quả là người có công danh, địa vị cao quý trong xã hội.nguoiphattu.com

Sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết giảng xong, bà chánh cung Hoàng Hậu bèn cung kính thưa rằng:

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do kiếp trước của con là người có tâm sân hận, nóng nảy, bực tức, tính khí thất thường, dễ dàng nổi cơn thịnh nộ, biểu hiện rõ sự hung hãn dữ dằn, gây hiềm hận với người khác dù chỉ có một vài lời nói xúc phạm đến con. Do vậy mà kiếp này dung nhan con không được xinh đẹp, da dẻ khô cằn không xứng đáng cho sự thỏa thích chiêm ngưỡng của phần đông.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do tiền kiếp con có tâm tạo phước bố thí cơm nước, thuốc men, y phục, vải vóc ... đến Sa môn, Bà la môn ... mà kiếp này con là người giàu sang phú quý.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do tiền kiếp con là người không có tính ganh tỵ và đố kỵ với những người được lợi lộc, được sự trọng vọng cung kính, cũng như không có lòng ganh tỵ với những người được sự thương yêu quý mến của những người khác, do vậy mà hiện tại con là người có địa vị cao quý.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Trong quốc độ này tất cả những phụ nữ thuộc nhiều dòng tộc khác nhau: Bà la môn, hoàng tộc, công khanh tướng phủ ... Con là người có địa vị cao quý đặc biệt hơn tất cả những người phụ nữ ấy. Những người phụ nữ ấy đều dưới quyền cai quản của con.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Bắt đầu hôm nay trở về sau, con sẽ cố gắng kiềm chế, không để cho nhiều sân hận, nóng nảy, bực tức phát sinh cho dù người khác có nặng lời xúc phạm đến con chăng nữa...nguoiphattu.com

- Con sẽ phát tâm hoan hỷ làm phước bố thí vật ăn, thức uống, chỗ ở,... đến chư Sa môn, Bà la môn ...

- Con sẽ không có tính ganh tỵ đến sự cúng dường bố thí của người khác; không làm hành động sai trái ảnh hưởng đến lợi ích của người khác bởi do tính ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen của con nữa.

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Con vô cùng hoan hỷ bởi lời dạy cao quý của Ngài quá sức rõ ràng!

- Kính bạch Đức Thế Tôn! Kính xin Ngài chứng minh cho con là người cận sự nữ có đức tin trong sạch và xin nương tựa nơi Ân Đức Tam Bảo từ nay đến trọn đời.
(Tỳ kheo Thiện Minh - Soạn dịch từ Miến Ngữ)

Con Đường Dẫn Tới An Lạc Và Giải thoát cho Tâm hồn


"Một người đối xử xấu ác với bạn thì giống như một ai đó bị té vào đống rác bẩn. Nếu ngớ ngẩn trở nên ghanh ghét hoặc sân hận với những người như thế, thì khác nào bạn muốn ngồi vào đống rác giơ bẩn với họ. Có phải đó là những gì bạn muốn? Hãy suy ngẫm về điều này cho đến khi bất cứ tư tưởng nào của  xấu ác và sân hận biến mất..."



 Ajaan Lee Dhammadharo, Anh dịch: Tỳ Kheo Thanisasro,
Việt dịch: Thích Nguyên Thái


Ở đây, chúng ta nói đến ba cấp độ của đức hạnh.
          1.Sơ cấp (hetthima): là cấp độ thông thường của lời nói và hành động, bao gồm ba nội quy cho  hoạt động của thân—không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm; và bốn nội quy cho miệng—không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thô ác, không nói lời vô bổ. Nếu chúng ta học tập đức hạnh dựa trên cấp độ này tùy thuận vào ngôn từ của những đức hạnh và những người vâng giữ  đức hạnh, thì có bốn—năm điều đức hạnh, hoặc tám, mười, 227 điều đức hạnh. Tất cả những điều đức hạnh này dùng để xử lý các trường hợp cư xử được xem là phóng túng và ngăn ngừa những việc sai quấy. Đồng thời, đức Phật cũng định hướng cho chúng ta phát huy những cử chỉ tốt đẹp và cư xử chuẩn mực trong sự thọ dụng bốn yếu phẩm cần thiết cho đời sống—thức ăn, quần áo, chổ ở và thuốc men—cốt để cách cư xử của chúng ta từ suy nghỉ, lời nói cho đến hành động sẽ trở nên ngăn nắp và phù hợp. Phương diện này được xem như công việc thiền tịnh, cách cư xử mà chúng ta nên thực hiện trong sự phát triển. Sự tuân thủ các điều đức hạnh hay nội quy này—chỉ đơn thuần điều chỉnh lời nói và hành động—tạo nên cấp độ thấp hơn hay sơ khởi về đức hạnh, đây là những gì khiến chúng ta trưởng thành.
          2. Trung cấp (majjhima): tức cấp độ đức hạnh trung bình, nghĩa là xem xét lời nói, hành vi của bạn để chúng không gây tổn hại cho mình và người khác. Ngoài ra, bạn phải quan sát những ý tưởng của mình để giữ gìn chúng đúng mực theo ba cách sau:
          a. Vô tham (anabhijjha-visamalobha): không tham muốn những thứ  không thuộc phạm vi hoặc quyền hạn của bạn; không có ý định nắm giữ những thứ như vậy; không nên xây dựng lâu đài trong không khí. Đức Phật dạy chúng ta phải giữ gìn tài sản mà mình có để phát triển nó ngày một nhiều hơn. Tuy nhiên, tài sản mình có, nếu chúng ta dùng trí thông minh và tài khôn khéo để làm ra, là tài sản có giá trị hấp dẫn hơn những thứ mà mình hoang phí thời gian và sức lực để đoạt lấy bằng lòng tham hoặc thèm muốn. Ví dụ, giả sử gia tài chúng ta chỉ có duy nhất một cây chuối. Nhưng nếu chúng ta tưới nước, bón phân, xới đất quanh gốc và chăm sóc nó trong nhiều cách khác, thì rốt cuộc cây chuối ấy tăng trưởng và nảy sinh ra nhiều cây chuối khác. Nói cách khác, Nếu khéo léo, chúng ta có thể xoay xở bất cứ tài sản nào mà mình có trong điều cơ bản cho kế sinh nhai. Nhưng nếu thiếu thông minh—nếu tâm chúng ta chỉ muốn hưởng thụ mà không muốn làm việc— thậm chí nếu sở hữu cả một khối tài sản kết xù, thì chúng ta sẽ không thể nuôi nổi chính mình trong nhiều năm nhiều tháng. Vì vậy, tham theo kiểu này, điều mà chúng ta luôn đặt tham vọng lên đó và vượt quá khả năng của mình, là điều sai trái thuộc hoạt động tâm thức.
          b. Vô sân (abyapada): buông bỏ mọi suy nghỉ về ác ý, sân hận và báo thù, thay vào đó nên phát huy các tư tưởng về nhân đức, ý thiện; nghỉ về các khía cạnh tốt đẹp của những  người đã làm chúng ta tức giận. Khi những người khiến chúng ta trở nên giận giữ, điều này xuất phát từ thực tế rằng mình có liên quan đến họ—trong đó chúng ta kết giao và giúp đở người khác—đôi lúc dẫn đến thất vọng. Điều này phát sanh bất bình và bực bội khiến chúng ta ấp ủ trong lòng và nuôi lớn các cảm giác gây hại nảy sinh tức giận và và những ý nghỉ trả thù. Vì thế, chúng ta nên nhìn những người như vậy từ nhiều gốc độ, họ cũng có một số điểm tốt vì họ là con người. Nếu không đối xử tốt với chúng ta, thì ít nhất họ cũng nói tốt với chúng ta. Hoặc không cư xử tốt và nói tốt với chúng ta, thì có lẽ ít nhất họ nghỉ tốt về chúng ta trong một số trường hợp. Khi nhận thấy tư tưởng của mình bị sân hận hoặc ghanh ghét điều khiển, bạn nên ngồi xuống và suy ngẫm theo hai cách sau:
          (1) Hãy nghỉ về bất cứ điều gì mà người đó đối xử tốt với bạn. Khi những điều này xuất hiện trong tâm, thì chúng sanh khởi các cảm giác của yêu thương và thiện ý.
          (2) Hãy nghĩ rằng  sân hận là một điều vô bổ, chẳng khác nào rác rưởi trôi trên mặt hồ. Nếu ngớ ngẩn, chúng ta sẽ không uống được nước sạch đã lóng cặn; hoặc nếu uống các cặn bả, thì có thể chúng ta mắc phải một căn bệnh nào đó. Một người đối xử xấu ác với bạn thì giống như một ai đó bị té vào đống rác bẩn. Nếu ngớ ngẩn trở nên ghanh ghét hoặc sân hận với những người như thế, thì khác nào bạn muốn ngồi vào đống rác giơ bẩn với họ. Có phải đó là những gì bạn muốn? Hãy suy ngẫm về điều này cho đến khi bất cứ tư tưởng nào của  xấu ác và sân hận biến mất.
          c. Chánh kiến (samma ditthi): là từ bỏ các quan điểm sai lầm và sự ám muội của tâm. Nếu tâm mình thiếu sự huấn luyện và giáo dục phù hợp, thì chúng ta có thể nghỉ rằng mình và những người khác được sinh ra đơn giản chỉ theo bản năng tự nhiên; cha mẹ chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt; thiện và ác không tồn tại. Các quan điểm như vậy đi sai sự thật. Họ có thể khuyên bảo chúng ta từ bỏ việc ác trong chính mình, đồng thời phát huy và nuôi dưỡng việc thiện. Nếu tin tưởng rằng không có điều ác hay điều thiện, cái chết là diệt mất, thì đó là quan điểm sai lầm—một sản phẩm của tư tưởng sai lầm và nhận thức nghèo nàn, thấy mọi thứ không tồn tại. Bởi vậy, chúng ta nên buông bỏ những quan điểm như thế và rèn luyện chính mình, tìm kiếm hiểu biết về các pháp và kết giao những người có trí tuệ hơn mình để họ có thể chỉ cho chúng ta phương thức hợp lý. Sau đó, chúng ta cải đổi các quan điểm của mình và khiến nó trở nên đúng đắn, đây là một trạng thái  tâm thức chân chính.
          Đức hạnh dựa trên cấp độ này, khi duy trì  đúng mực, nó sẽ xác định cho chúng ta trở thành chúng sanh ở cõi trời. Các đặc tính của chúng sanh ở cõi trời là phát triển vượt ra ngoài những giá trị của con người, và chúng ta sẽ trở lại làm người rất cao cả trong đức hạnh của mình nhằm giữ gìn ý nghỉ, lời nói và hành động mà mình xác định cho cõi trời trong đời sống này. Đây là một phương diện của phước đức được phát huy bởi bởi một người chuyên tâm giữ gìn đức hạnh ở cấp độ trung bình.
          3. Cao cấp (uparima): là cấp độ đức hạnh cao hơn, nơi đức hạnh hợp nhất với các pháp trong lãnh vực hoạt động của tâm. Có hai khía cạnh về đức hạnh cao hơn:
          a. Xả (pahana): là buông bỏ năm yếu tố  sau:
          (1) Tham dục (kamachanda): là lưu luyến, tham lam, lơ đảng, cuồng loạn, là những tham muốn nhục dục nằm ngay trong bản chất của tật xấu hoan lạc. Tâm cảm thấy hấp dẫn trước những đối tượng nhục dục—những ý tưởng cảm giác về tầm nhìn, âm thanh, mùi vị, xúc chạm trong quá khứ hoặc tương lai—hoặc những cảm giác cấu uế—si mê, ghanh ghét hoặc ảo tưởng—rồi đánh mất chính mình. Các trạng thái tâm như vậy có thể được xem là vượt quá giới hạn của phép tắc trong  những vấn đề xúc cảm.
          (2) Oán ghét (byapada): là ác ý và sân hận nằm trong bản chất của việc giết chóc khiến chúng ta phá hủy điều thiện của chính mình và người khác—khi tâm giết chết điều thiện của chính mình, vậy chúng ta thu được điều tốt nào từ việc giết người khác và động vật?
          (3) Hôn trầm (thina-midha): là trạng thái chán nản, muộn phiền và uể oải. Đây là tình trạng thẩn thờ, lơ mơ và u ám, quên trước quên sau không có chánh niệm hoặc không quán chiếu tâm. Nó còn có nghĩa là say sưa hoặc mê mẩn.
          (4) Phóng dật (uddhacca-kukkacca): là trạng thái bồn chồn và lo lắng nằm trong bản chất của việc nắm giữ những gì không thuộc sở hữu của mình. Tâm thường lo lắng về việc nắm giữ tài vật của người khác, đôi lúc là vật có giá trị đối với họ, nhưng đôi lúc lại là vật không có giá trị đối với họ. Nếu nói là vật không có giá trị đối với họ, thì không đứng đắn, bởi vì ít nhất số tài vật đó cũng cho chúng ta sống được một vài ngày..Ngay cả khi ăn cắp công việc/sự kinh doanh của người khác để giữ riêng cho mình, thì cũng như chúng ta lấy cắp vàng bạc của họ. Nếu vật không có giá trị của họ giống như rác rưởi mà họ vứt đi—đồ vụn vặt và thừa thải không có giá trị gì—thì chúng ta có thể lấy dùng. Nhưng nếu biết người khác đang sở hữu những vật không giá trị đó và họ bảo vệ chúng mà chúng ta vẫn cố tình lấy, thì chẳng khác nào ăn trộm vậy. 
          (5) Hoài nghi (vickiccha): là trạng thái nghi ngờ, do dự và không quyết đoán. Trạng thái này thuộc về bản chất của đối trá. Nói cách khác, tâm chúng ta không chắc chắn, không tin cậy được hoặc không thực. Chúng ta không có những quy định chắc chắn và vì thế bị ảnh hưởng các ý tưởng do dự và những lo toan.
          Tất cả những trạng thái thiếu trí tuệ ở trên là những gì mà chúng ta nên tịnh trừ bằng cách rèn luyện tâm mình theo các phương thức sau:
          b. Thiền định (bhavana): những tính chất cần được phát huy.
          (1) Chánh niệm (sati): bắt đầu bằng cách suy ngẩm về một đối tượng, như theo dỏi hơi thở vào và hơi thở ra. Dùng chánh niệm để đem tâm tập trung vào một đối tượng. Tầm, nghỉ theo cách này, là những gì loại trừ dục vọng ham muốn, trong đó nguyên tắc của chánh niệm là giữ tâm định tỉnh khiến nó không chạy theo các đối tượng bên ngoài.
          (2) Tứ (vicara): là suy nghiệm và quán chiếu. Nghĩa là làm cho chính bạn  nhận thức rõ mình đã lãnh thọ cảm giác thoải mái và thanh thản từ hơi thở của mình hay không. Nếu không, thì bạn hãy theo dỏi và điều chỉnh hơi thở theo nhiều cách khác nhau: chẳng hạn như thở  vào dài và thở ra dài, thở vào dài và thở ra ngắn, thở vào ngắn và thở ra ngắn, thở vào ngắn và thở ra dài, thở vào chậm và thở ra chậm, thở vào nhanh và thở ra nhanh, thở vào nhẹ nhàng và thở ra nhẹ nhàng, thở vào mạnh và thở ra mạnh, thở vào thông suốt khắp cơ thể và thở ra thông suốt khắp cơ thể. Hãy điều chỉnh hơi thở cho đến khi nó đem lại những kết quả tốt cho thân tâm, và bạn sẽ lợi bỏ những cảm giác của ác ý và sân hận.
          (3) Hỷ (piti): khi bạn có được những kết quả tốt—ví dụ khi các cảm giác hơi thở tinh tế trong thân hợp nhất và cùng tuôn trào, tỏa khắp toàn bộ giác quan của cơ thể—thì hơi thở trở nên giống như dây dẫn điện; các bộ phận khác của cơ thể, như xương, tương tự cực âm và cực dương của dòng điện; chánh niệm và tỉnh thức giống như nguồn điện; và như vậy, tỉnh thức trở nên sáng rực và nhạy bén. Cả thân và tâm cảm thấy tràn đầy và mãn nguyện. Đây là hỷ hay sự an vui có thể tịnh trừ sầu muộn.
          (4) Lạc (sukha): bấy giờ, các cảm giác bồn chồn và lo lắng đã biến mất, và một cảm giác an lạc và thanh bình khởi lên trong thân tâm. Cảm giác an lạc này tịnh hóa trạng thái bồn chồn và lo lắng.
          (5) Định tỉnh (ekaggata): những nghi ngờ và do dự mờ dần trong trạng thái này. Tâm tập trung vào một đối tượng duy nhất trong trạng thái bình lặng và cân bằng. Sự bình lặng của tâm được duy trì qua năng lực của quy luật chánh niệm, hình thành nên bản chất của đức hạnh: quyết đoán, kiên định và tỉnh thức. Kết quả đạt được của hương thơm hoặc sự nuôi dưỡng đức hạnh là định tỉnh, thư thái, và một cảm giác tự tại cho tâm. Khi trạng thái tự do này sanh khởi trong chúng ta, thì đó được gọi là sự phát huy của suy tưởng về đức hạnh, chánh niệm của đức hạnh, Đây là đức hạnh đạt đến cấp độ ưu việt—dẫn tới giác ngộ, đạo quả và Niết-bàn—vì vậy có thể được gọi là giới cao thượng, đức hạnh cao cao cả.
Ajaan Lee Dhammadharo, Anh dịch: Tỳ Kheo Thanisasro,
Việt dịch: Thích Nguyên Thái
(Nguồn: www.dapphatngaynay.com)

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Chia Buồn


"Toàn thể các bạn bè quen biết và các Phật tử chùa Phật Huệ xin thành thật chia buồn với chị Trần Thị Thêm cùng toàn thể gia quyến và cầu chúc hương hồn của Cụ Bà Nguyễn Thị Kiết được siêu sanh về cõi An Lạc..."








Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Những Hình Ảnh Trong Khoá Tu Đàn Pháp Dược Sư - Phần 2


Xin giới thiệu tới quý Đạo hữu, quý Phật tử những hình ảnh kế tiếp trong khoá Tu Đàn Pháp Dược Sư được tổ chức ngày 02-03.11.2013 vừa qua tại chùa Phật Huệ, Đức Quốc..."






Xin hoan hỉ bấm vào hình để xem chi tiết

DSC_0792

Xem Slideshow - Xin hoan hỉ bấm vào hình để xem slideshow


Slideshow

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Những Hình Ảnh Trong Khoá Tu Đàn Pháp Dược Sư - Phần 1


"Sân từ đâu tới? Si từ đâu tới? Tham-Sân-Si sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Tại Tham-Sân-Si khiến chúng ta vô cùng phiền não và đau khổ? Làm cách nào để tiêu trừ những phiền não và đau khổ này? Tại sao có những quốc gia rất giàu có, người dân sống rất hạnh phúc, ngược lại có những quốc gia rất nghèo khó, người dân sống vô cùng cực khổ? Sự khác biệt giữa Biệt Nghiệp và Cộng Nghiệp?..."

Xin quý Phật tử hoan hỉ 
bấm vào tấm hình để xem toàn bộ Album

Master
Thượng Tọa Trụ Trì Thích Thiện Sơn làm lễ Khai Đàn Dược Sư
ngày 02-03.11.2013 tại chùa Phật Huệ


Xem Slideshow 
Xin hoan hỉ bấm vào tấm hình để xem Slideshow